Tuesday, 21 October 2008

UK ơi là UK...

Bài này của một bác khá nhiều tuổi sống ở London.
Hoàng Hạc
Khủng hoảng tài chính thế giới: Thất nghiệp
Đúng như nhận định của phóng viên kinh tế AP Jeannine Aversa: "Hôm nay 250 tỷ USD mà chính phủ Bush rót thẳng vào các ngân hàng chính ở Mỹ đã làm thị trường hồi sinh trở lại và quá trình vay mượn bắt đầu vận hành, nhưng chuyển động cấp tiến ấy chưa đủ thay đổi nhanh chóng nền kinh tế đang chao đảo. Cái hệ lụy đau đớn kéo theo sự chao đảo đó là người dân Mỹ đang mất sạch công ăn việc làm (vanishing jobs)". Sáng nay khi ngồi uống cà phê tại quán Italia ngay Leicester Square nổi tiếng của London, tôi giật mình khi hàng tít lớn của một tờ báo đập vào mắt: "Jobs Bloodbath - 60,000 city workers face axe!" ( Công ăn việc làm đổ máu - 60 ngàn công nhân thành phố đối mặt với lưỡi rìu!)

Vậy là cái gì phải đến đã đến. Mặc dầu đây chỉ là lời tiên đoán về công ăn việc làm của London từ nay đến cuối năm 2009, nhưng tôi tin sức rung chuyển của tin này còn kinh khủng hơn cả tin nhà băng Icesave vỡ nợ, vì hàng trăm ngàn người London sẽ lâm vào cảnh khốn cùng! Thảo nào tối hôm qua tôi bắt gặp cô bé Katie sống trong ngôi nhà cạnh tu viện đứng khóc ngoài đường. Bố Katie là một trong số 5 ngàn nhân viên của Lehman Brothers ở London bị mất việc tháng trước, mẹ em mới bị phát hiện ung thư xương giai đoạn 2, sau Katie còn 2 em trai 7 và 10 tuổi cũng đang đi học. Chiếc xe Mercedes đã bị kéo rồi, sắp tới là nhà cũng bị kéo nốt và chắc chắn là bố mẹ không có tiền trả học phí cho cả 3 chị em nữa (cả 3 chị em đều học trường tư). Cuộc sống yên bình ổn định thế là không còn. Katie còn quá trẻ để hiểu được tại sao mà mọi tai hoạ cứ liên tiếp đổ xuống đầu gia đình em. Ở nước Anh không có một cái gì coi là ổn định được. Đang tươi đẹp thế nhưng chỉ vài ngày thôi, đùng một cái mọi thứ đều đảo lộn! Khủng hoảng tài chính là vậy.

City A.M., nhật báo chuyên về tài chính ở London trong số ra ngày 16-10 thống kê: "Tính đến nay số người thất nghiệp là 1 triệu 790 ngàn (số liệu của Văn phòng Thống kê Quốc gia [ONS]). Với đà suy thoái của hệ thống ngân hàng hiện nay, đến lễ Giáng sinh con số thất nghiệp sẽ vọt lên tới 2 triệu!" Trả lời phỏng vấn của City A.M., chuyên viên hãng Lloyds ở London James Karagozlou cho rằng chính phủ phải làm nhiều hơn nữa để chặn lại con số thất nghiệp mà ông nghĩ là nó sẽ tăng cao. Cùng lúc này, ở bên kia bờ Đại Tây dương, William Thompson, quan chức tài chính cao nhất của thành phố New York (Mỹ) tiết lộ: New York sẽ mất 165 ngàn job do khủng hoảng tiền tệ trong 2 năm sắp tới, bao gồm cả 35 ngàn người được tuyển làm trực tiếp trong khu vực tài chính. Các quan chức chính phủ của Tây Ban Nha, Nga, Hy Lạp lên tiếng báo động về tình trạng thất nghiệp gia tăng... Các tin tức về jobless (mất việc) thường gây hoang mang cho dân thường, cả người có tiền lẫn không có tiền.

Ngày 16-10, chính phủ Anh với 37 tỷ bảng đã quốc hữu hoá từng phần ba nhà băng: Royal Bank of Scoland (RBS) 20 tỷ, Lloyds TSB 4 tỷ, HBOS 13 tỷ, đây được coi là vụ quốc hữu hoá lớn nhất trong lịch sử tài chính nước Anh. Các xếp mới được chính phủ bổ nhiệm đã tới làm việc. Xếp cũ, giám đốc thường trực của RBS, ngài Fred Goodwin mới 50 tuổi đã rời nhiệm sở sáng 14-10 sau khi nhận tiền lương hưu cả gói là 8,4 triệu bảng (mỗi năm 579 ngàn bảng)! Chỉ cái số lẻ của ông Goodwin cũng đủ cho 10 gia đình người Anh chi tiêu trong một năm. Hèn chi mà anh chàng thày tu da trắng trong tu viện đã cay đắng nhận xét: "Các ông chủ tài chính của London bình thường đã cướp của người dân hàng chục triệu bảng bỏ túi để gây nên cảnh khủng hoảng này, bây giờ lại vẫn ung dung bước trên thảm đỏ về nghỉ ở nhà. What a life (đời là thế)!" Tôi chắc bé Katie càng không thể hiểu được những đường lăn dích dắc bẩn thỉu này của đồng tiền, bé chỉ nghĩ tới cảnh sẽ phải xa bạn học, có thể sẽ phải đi làm để giúp bố mẹ, tuổi 14 đã có thể đi làm được rồi, mặc dầu chính phủ Anh cũng công bố ngày 15-10 sẽ chi ra 100 triệu bảng (tức 1 phần 10 tỷ) để huấn luyện lại những viên chức bị mất việc trong vụ khủng hoảng tài chính này, nhằm giúp họ có thể dễ dàng kiếm việc làm mới. Ở Mỹ, số người dùng food stamps (một dạng trợ cấp xã hội qua tem lương thực) là 29 triệu người, riêng vụ khủng hoảng tài chính làm tăng thêm một triệu người nữa và con số còn tiếp tục tăng ở mức đáng báo động. Các con số này khiến tôi đâm ra nghi ngờ các chính sách cứu nguy của ông Bush và ông Gordon Brown: đổ hàng trăm tỷ ra tài trợ cho các nhà băng chỉ để lấy lại sự tin cậy của người đầu tư chứ không giúp gì cho người nghèo tại chính Anh và Mỹ cả, những người nghèo này chỉ sợ nhất hai thứ thường hay đi liền nhau trong các cơn biến động lớn về kinh tế: thất nghiệp và lạm phát! Đó là quy luật: khủng hoảng tài chính làm ngân hàng không có tiền, dân chúng không có tiền cộng thêm hoang mang lo sợ nên sức mua giảm hẳn, tiền khó kiếm sẽ đẩy tới việc lạm phát, vì ai cũng tìm cách giữ tiền: đồng tiền liền khúc ruột mà, dân chúng giảm sức mua khiến ngân hàng lại càng khó tích luỹ tiền... Cái vòng quay ngựa gỗ của quy luật này, nếu không có những tác động mạnh của chính phủ sẽ bùng lên khởi phát thành những chấn động.

Báo chí đưa tin mấy ông chủ lớn mất hàng tỷ bảng, ngay cả trong ngành thể thao bóng đá, các ông bầu câu lạc bộ Chelsea (Abramovich), Arsenal (Usmanov với 24% cổ đông) chao đảo vì bỗng nhiên mất một số tiền lớn do cổ phiếu rớt đài, Hội đồng Anh (British Council) mất 858 triệu bảng tiền gửi ngân hàng Iceland, người khổng lồ Pepsi cắt giảm 3300 jobs và đóng
cửa 6 nhà máy trong một nỗ lực nhằm tiết kiệm 1,2 tỷ Đôla, ngân hàng RBS mặc dầu được chính phủ bơm 20 tỷ bảng trong vụ quốc hữu hoá từng phần nhưng vẫn quyềt định sẽ cắt giảm hàng ngàn công việc, còn giá nhà ở London thì đang drop(rơi) tới hơn 10 % và cũng lâm vào Prices War (chiến tranh giá cả),... Những tin tức xấu nhiều vô kể, ùa đến giày vò thần kinh người London, khiến rất nhiều người trong số họ, nhất là những người trực tiếp mất việc, bị mắc chứng Stock Market Stress [1] (chứng bệnh thần kinh liên quan đến chứng khoán). Bác sĩ Shanahan, giám đốc bệnh viện sức khoẻ tâm thần Capio Nightingale của vùng Marylebone, cho biết số bệnh nhân có hiện tượng mà ông gọi là "Hội chứng Square-Mile" (Square-Mile Syndrom) [2] bỗng tăng vọt, có nguy cơ trở thành một đại dịch stress. Nghĩ cũng thấy kinh kinh, tôi liền kể cho chàng thày tu da trắng, anh ta doạ tôi: ông phải cẩn thận đấy, ông làm việc trực tiếp đưa tin khủng hoảng tài chính coi chừng cũng bị mắc Stock Market Stress! Nhưng mà tôi chẳng sợ vì tôi không có xu nào gửi nhà băng cả, với lại nếu không còn việc làm ở London nữa, tôi sẽ tót về Việt Nam ngồi rung đùi, bình chân như vại ngắm đám cháy bên kia bờ Thái Bình Dương như mấy ông bạn nhà báo ở Việt Nam!

London, 17-10-2008

© 2008 talawas



[1]Stock market stress and cardiac risk - Published October 9th, 2008 - Rising unemployment rates, the worst Wall Street crises since the end of World War II, record home foreclosures. There is plenty of stress to go around. What effect is stress having on our health and what can we do about it? “Prolonged stress, both emotional and physical, impacts the overall cardiovascular status of our patients, particularly their blood pressure,” said Keith Churchwell, M.D., executive medical director of the Vanderbilt Heart and Vascular Institute. American and global stock markets on a daily rollercoaster ride, anxiety over the burden of the government’s bailout of Wall Street, and the added stress placed on all Americans by increased financial instability could be taking its toll. Stress can cause increasing physical demands on the body, constriction of the coronary blood vessels and heightened electrical instability in the heart. (Nguồn: http://ihealthbulletin.com/blog/2008/10/09/stock-market-stress-and-cardiac-risk)
[2]Square-Mile Syndrom - According to Capio Nightingale, a private hospital based in Marylebone, the number of people asking about mental health disorders and treatments has increased by 33 per cent in the past three months, while those seeking advice on drug and alcohol misuse has risen by 30 per cent. The hospital says city workers are suffering from ‘Square-Mile Syndrome’ - a term used to explain the mental health problems such as depression, stress and anxiety which arise from fear of job loss and financial insecurity, and may also be linked to increased alcohol and drug use. (Nguồn: Times online http://143.252.148.161/tol/global/article4893843.ece)

Monday, 31 December 2007

Entry for January 01, 2008

Ngày đầu tiên của năm mới, đi thăm khu di tích K9 - Đá Chông. Thật là một chuyến ngắn nhưng nhiều ý nghĩa, hy vọng năm nay sẽ là một năm tốt lành đối với gia đình, người thân và bạn bè...

Đồi Đá Chông nằm trong khu rừng nguyên sinh thuộc quần thể núi Ba Vì, huyện Bất Bạt, có độ cao 150 m so với mực nước biển, địa thế giáp gianh ba tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ và Sơn Tây.Tên gọi Đá Chông có từ thời ngàn xưa trong cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh,ngày nay quãng ven con sông Đà này,bên bờ vẫn còn thấy những dãy chông đá,nhọn như hình răng cưa,ngăn dòng nước hung dữ năm xưa… Vào những năm 50 của Thế kỷ XX, nơi phong cảnh “sơn thuỷ hữu tình” này có mật danh là K9. Và ngày nay được gọi là Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9- Đá Chông ( gọi tắt là Di tích K9).
Tháng 5 năm 1957, trong một lần Bác đến thăm Trung đoàn bộ binh 88 thuộc Sư đoàn 308 cùng Trung đoàn pháo binh 63 và một đơn vị bộ đội thiết giáp diễn tập bên sông Đà, Bác và các đồng chí cùng đi đã dừng chân, ăn cơm trên một quả đồi. Nhận thấy nơi đây có nhiều điểm thuận lợi về địa hình, thời tiết, giao thông: có rừng cây, có núi, có sông, thuận tiện giao thông, gần Thủ đô…, Bác đã trao đổi với các đồng chí cùng đi, ngỏ ý muốn chọn nơi này là căn cứ của Trung ương, đề phòng chiến tranh có thể mở rộng ra miền Bắc. Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng đến khảo sát lại khu vực này vào đầu năm 1958. Sau chuyến khảo sát này, đến giữa năm 1958, Khu làm việc của Trung ¬ương ở Đá Chông đã được khởi công xây dựng với tên gọi là Công trường 5 với ba hạng mục xây dựng là:
- Khu A dành cho Bộ Chính trị họp và làm việc.
- Khu B dành cho các đồng chí lãnh đạo.
- Khu C dành cho anh em bảo vệ và phục vụ.
Từ năm 1960, Công trường 5 đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, sau này được gọi theo mật danh K9.
Trong 9 năm (1960-1969), K9 đã nhiều lần được vinh dự đón Bác cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị lên làm việc và nghỉ ngơi.
Ngày 20/6/1959, Bác lên thăm và khảo sát tình hình thi công, xây dựng ở Công trường 5 (K9).
Khoảng đầu tháng 3/1961, Bác đã cùng đồng chí Đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ lên thăm K9. Chuyến đi này, Bác cùng đại sứ Hà Vỹ chuẩn bị sẽ đón tiếp đoàn của bà Đặng Dĩnh Siêu-phu nhân Thủ tướng Chu Ân Lai lên thăm quan khu Đá Chông nhân dịp bà dẫn đầu đoàn đại biểu phụ nữ Trung Quốc sang thăm và dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam lần thứ III.
Ngày 13/3/1961, Bác đưa đoàn đại biểu phụ nữ Trung Quốc do bà Đặng Dĩnh Siêu dẫn đầu lên thăm, đồng chí Đại sứ Hà Vĩ cũng cùng đi. Bác đã đưa đoàn đi thăm rừng thông và toàn cảnh khu vực Đá Chông. Trong chuyến thăm, Bác và bà Đặng Dĩnh Siêu đã trồng cây, chụp ảnh lưu niệm… Buổi trưa, Bác mời đoàn dùng cơm thân mật tại Nhà khách.
Ngày 24/1/1962, trong dịp đoàn đại biểu quân đội Liên Xô do anh hùng Titốp, phi công vũ trụ nhà nước Xô Viết dẫn đầu sang thăm Việt Nam, Bác đã đưa đoàn lên thăm Khu di tích, thăm phong cảnh núi rừng, rừng thông, đi săn và bơi thuyền. Bác cùng anh hùng Titốp đã trồng hai cây Vàng Anh lưu niệm tại đây. Trưa hôm đó, Bác đã mời đoàn dùng cơm tại nhà khách của Khu di tích.
Một lần Bác cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị lên họp.Một lần Bác lên làm việc và gặp gỡ cán bộ ở đây, Bác đã cùng anh em cán bộ ăn cơm rất thân mật, gần gũi.
Dù Bác lên ở và làm việc tại K9 không thường xuyên nhưng mỗi con đường, mỗi ngôi nhà, mỗi hàng cây ở đây vẫn in đậm hình bóng Bác.
Sau khi Người qua đời, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta mong bảo vệ và giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ để sau ngày đất nước thống nhất, đồng bào, chiến sỹ cả nước và bạn bè quốc tế mãi mãi được viếng thăm Bác. Thể theo nguyện vọng đó, trong khi đất nước còn có chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta còn đang hướng tới việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã quyết định chọn K9 làm nơi bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác từ ngày 24/12/1969 và phải tuyệt đối bí mật. Khu vực này có nhiều điểm thuận lợi như nhà cửa, hầm công sự đã có sẵn, địa thế nằm trong dải rừng dài, rộng, nên thuận tiện cho việc phòng thủ và giữ bí mật.
Sau một thời gian thi hài Bác được giữ gìn, bảo vệ ở Đá Chông, ngày 23/5/1970, Hội đồng khám nghiệm gồm chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã tổ chức khám nghiệm thi hài và kết luận: “Qua 8 tháng đầu bảo vệ, giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một nước khí hậu nhiệt đới, mặc dù phải di chuyển xa nhưng hình dáng bên ngoài và các bộ phận trên cơ thể Người vẫn được bảo tồn đầy đủ, phù hợp với hình thể lúc Người còn sống”. Trên cơ sở đó, Trung ương quyết định lấy K9 làm nơi giữ gìn và bảo vệ thi hài Bác..
Đêm 20, rạng ngày 21/11/1970, trực thăng Mỹ đổ quân xuống khu vực thị xã Sơn Tây hòng cứu thoát số phi công Mỹ bị giam ở đây. Điều này khiến ta phải đặt ra những phương án bảo vệ thi hài Bác ở khu vực K9. Ngày 24/11/1970, Trung ương Đảng quyết định di chuyển thi hài Bác về Hà Nội. Bác về Hà Nội mới được vài tháng thì mưa lũ lên cao, theo dự đoán thì mức nước sẽ tàn phá đê điều làng mạc nghiêm trọng, do vậy, 13h ngày 18/8/1971, thi hài Bác được đưa trở lại K9. Việc di chuyển này rất khó khăn phức tạp, chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể gây hậu quả không thể lường hết được. Do tình hình chiến tranh phức tạp, bầu trời K9 lúc này luôn đầy tiếng máy bay giặc Mỹ, 21 h ngày 11/7/1972, đoàn xe chở Bác được lệnh rời K9 và 0h15’ ngày 12/7, Bác đã về yên nghỉ ở một vị trí trong hang núi bên kia sông đến khi Hiệp định Paris đ¬ược ký kết, Mỹ ngừng ném bom hoàn toàn miền Bác thì Bác lại được đưa trở lại K9. Đây cũng là lần thứ năm các chiến sỹ Đoàn 69 thực hiện việc di chuyển thi hài Bác.
Sau khi việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đ¬ược hoàn thành ngày 22/8/1975, thi hài Bác được đưa về gìn giữ, bảo quản để đồng bào, chiến sỹ cả nước và bạn bè quốc tế về thăm viếng Bác.
Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9-Đá Chông là di sản văn hóa vô giá. Nơi đây in dấu những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc trong những năm tháng lãnh đạo đất nước. Người đã tiếp đón bạn bè quốc tế thân thiết tại đây. Đây còn là nơi an toàn tuyệt đối trong việc giữ gìn, bảo vệ thi hài Bác Hồ từ năm 1969-1975.

Sunday, 16 December 2007

Báo Lao Động điểm sách Umesao Tadao

"Lịch sử thế giới nhìn từ quan điểm sinh thái học"


Lao Động Cuối tuần số 49 Ngày 16/12/2007 Cập nhật: 2:22 AM, 16/12/2007
http://laodong.vn/Home/ldcuoituan/2007/12/68784.laodong



(LĐCT) - Những phát hiện sâu sắc có tính gây chấn động của giáo sư Umesao Tadao đã được lý giải trong cuốn "Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học: Văn minh Nhật Bản trong bối cảnh thế giới".

Vì sao nền văn minh Nhật Bản lại có những nét tương đồng với văn minh Tây Âu? Vì sao các quốc gia Tây Âu và Nhật Bản đã trải qua những hiện tượng song song trong lịch sử, mà không phải quốc gia Châu Á nào khác?

Nhật Bản là hiện tượng kỳ lạ trong lịch sử Châu Á, là nước duy nhất thành công một cách nhanh chóng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chỉ mất nửa thế kỷ để trở thành một trong ngũ cường gồm các nước phương Tây từ thập niên 1920.

Và trong các thế kỷ trước, Nhật là quốc gia duy nhất ở Đông Á từng đi xâm chiếm các nước khác và xây dựng thuộc địa riêng. Umesao lý giải: "Sự song hành giữa các nền văn minh Nhật Bản và Tây Âu là do cấu trúc sinh thái của toàn bộ lục địa Á-Âu".

Ông Tadao chia cựu thế giới thành 2 vùng: Vùng 1 và vùng 2. Các nước vùng 1 gồm Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản; vùng 2: Từ Nga, đến Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Nam Tư, Morocco (các vùng đang phát triển).

Đức và Nhật tuy cách xa về địa lý, nhưng con đường của hai nước giống nhau lạ lùng, cả hai đứng dậy sau tro tàn thất trận, trong chiến tranh đều do chính quyền phátxít cai trị.

Anh và Pháp cũng đều có thái độ hiếu chiến đế quốc và xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Còn vùng 2 là các nước thuộc địa, hoặc nửa thuộc địa trước chiến tranh, hoặc chịu nhiều gian khổ, thiếu thốn. Trong quá khứ, đã từng có một số đế quốc lớn ở vùng 2.

Một số nước, như nước Nga dưới thời Sa hoàng, đã thực hiện những cuộc xâm lăng kiểu đế quốc chủ nghĩa, nhưng vì các nước này không có trụ đỡ của chủ nghĩa tư bản nên điều kiện của họ khác xa so với những cường quốc đế quốc chủ nghĩa trong vùng 1.

Rất nhiều cuộc cách mạng diễn ra ở các nước vùng 2, từ cách mạng dân tộc Trung Quốc đến cách mạng Ai Cập, cách mạng vô sản Nga..., trong khi không một nước vùng 1 nào trải qua cách mạng trong suốt 30 năm ấy. Giữa vùng 1, vùng 2 có những dị biệt lớn.

Tadao chỉ ra rằng: "Chủ nghĩa tư bản hiện đại là hệ thống kinh tế đặc thù của các nước vùng 1. Họ có giới tư sản phát triển sớm và mạnh mẽ. Tất cả các nước này đều trải qua thời kỳ phong kiến. Nhưng vùng 2 thể hiện một kịch bản trái nghịch: Hệ thống tư bản chủ nghĩa kém phát triển.

Cách mạng thường đưa đến sự trỗi dậy của nền độc tài, chứ không phải trao quyền cho giới tư sản. Hệ thống đặc thù của các nước vùng 2 trước cách mạng không phải là chế độ phong kiến, mà là chế độ chuyên chế hay thực dân. Dưới những điều kiện này, giới tư sản thật khó lòng phát triển".

Tính khai mở của công trình là ở chỗ, giáo sư Umesao đã sáng tạo ra một khái niệm mới - Trung phương (Mediant) nổi tiếng. Trong đó có văn minh Ấn Độ, văn minh Lưỡng Hà, văn minh Arab - thế giới của Hồi giáo.

Trung phương cũng là cái nôi sáng tạo và nuôi dưỡng những tôn giáo lớn nhất thế giới. Quan điểm về sự tồn tại của thế giới Trung phương và những đóng góp vĩ đại của nó đã thay đổi cách nhìn về "Thuyết hai thế giới" (tức chỉ thừa nhận phương Đông, phương Tây). Đồng thời, ông phát hiện thấy xã hội vùng Trung phương còn ẩn chứa nhiều thách thức và cả những vấn đề nan giải. Ông lưu ý rằng không thể coi Nhật Bản là một bộ phận của Tây Âu.

Theo dòng mạch tư duy đó, ông phê phán quan niệm hướng về lục địa của một số thể chế Nhật Bản và khuyên chính phủ nước này cần có tầm nhìn về đại dương. Cũng theo đó, Nhật Bản không thể là mô hình hiện đại hoá cho các quốc gia Châu Á.

Ông cho rằng, bản lĩnh của một dân tộc là phải biết tiếp nhận những giá trị khác biệt và tái điều chỉnh. Trong sách còn có những phân tích độc đáo về một số quốc gia khu vực Đông Nam Á.

Umesao Tadao là một nhân vật kiệt xuất trong giới trí thức Nhật, không chỉ trong giới nhân chủng học, mà trong giới trí thức hàng đầu. Sinh năm 1920, ông từng đi khắp nước Nhật, sau đó ở Châu Phi và nhiều nước Châu Á..., đã có tuyển tập gồm 23 cuốn sách có giá trị. Ông dạy ở các trường đại học, sau đó làm Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học 1974, kiến dựng bảo tàng Dân tộc học quốc gia, được trao nhiều huy chương, huân chương, giải Cành cọ Hàn lâm về học thuật của Pháp.

Minh Thi

Friday, 12 October 2007

Entry for October 12, 2007



.... Một chiều đông gió hun hút thổi trên đường phố Hán Thành.... Ghé vào Bandi & Luni mua được 2 cuốn sách mới "The Age of Turbulence: Adventures in A New world" của Alan Greenspan và cuốn sách hay nhất về lịch sử đương đại 2 miền Triều Tiên "The two Koreas" của Don Oberdorfer....

....Ngày mai mình dự định sẽ đến Khu Phi quân sự và Bàn Môn Điếm...Trông sang bên kia là đất của Dear Leader... Người đang làm gì? Đang xem phim DVD ông bạn Noh mới tặng chăng?

Saturday, 7 July 2007

Tokyo, Tokyo

Hì, 7h7m7s tối thứ 7, ngày 7/7/7 mình sẽ trở lại Đông Kinh lần đầu tiên sau một năm rưỡi. Chuyến công tác lần này chỉ có 7+1 ngày, nhưng nhất định mình sẽ ghé qua những chốn ngựa xe thành quách xưa nơi từng lưu dấu thu thảo gót chân kẻ lữ khách tha hương mùa hoa anh đào nở năm nao. Lần này sẽ không có những bữa tiệc, những cái bắt tay, những big deal với các tập đoàn lớn trong ngành như trước nữa. Nhưng mình cảm thấy vui vì giờ đây được làm điều sở nguyện, và tham gia (chút xíu, bé hơn hạt vừng) vào những thứ có thể làm biến chuyển đến chính sách thương mại và cạnh tranh của đất nước. Dù bận gì đi chăng nữa, trong lịch trình cá nhân nhất định sẽ có tiểu mục tìm sách ở phố Thần Bảo Đinh (Jinbocho - Trung tâm sách cũ lớn nhất Á châu); ghé bến sông Thần Điền (Kanda) để nhớ lại cảnh ông bạn thân Minami Kousetsu cùng mình ngồi bên bờ sông gảy Tây Ban Cầm ca bài Kandagawa réo rắt lay động lòng người "Phải chăng em đã quên - Tấm khăn choàng thắm đỏ - Đôi ta cùng sánh bước - phòng Phong Lữ ngõ xa..."; Rồi nhất định còn phải thưởng thức món sushi-sashimi ở chợ Trúc Địa (Tsukiji - chợ hải sản tươi sống lớn nhất thế giới), và tất nhiên không thể thiếu màn đi dạo một vòng quanh xóm Thu Diệp Nguyên (Akihabara) xem công nghệ hiện tại đã tiến triển thế nào.

...Tạm xếp gạch ở đây đã, đến khi về chắc sẽ có chuyện hay để mua vui cho bằng hữu giang hồ...


神田川


喜多条忠 作詞
南こうせつ 作曲
あなたはもう忘れたかしら
赤い手拭いマフラーにして
二人で行った横丁の風呂屋
一緒に出ようねって言ったのに
いつも私が待たされた
洗い髪が芯まで冷えて
小さな石鹸カタカタ鳴った
あなたは私の体を抱いて
冷たいねって言ったのよ
*)若かったあの頃
何も恐くなかった
ただあなたのやさしさが
恐かった
あなたはもう捨てたのかしら
二十四色のクレパス買って
あなたが描いた私の似顔絵
うまく描いてねって言ったのに
いつもちっとも似てないの
窓の下には神田川
三畳一間の小さな下宿
あなたは私の指先見つめ
悲しいかいって訊いたのよ




Tuesday, 26 June 2007

Entry for June 26, 2007

Introduction of two new books on Japanese history

On 25-6-2007, VDF organized a symposium at NEU to introduce two books newly translated into Vietnamese: Dr. Tadao Umesao's Ecological View of History and Prof. K.Ohno's Economic Development of Japan (see news below). Prof. Nguyen Van Kim (HNU, photo) explained the significance of Umesao's work and Prof. Ohno described Meiji Japan's high capability in economic development. Mr. Nguyen Duc Thanh, co-translator of Umesao's book, discussed historical philosophies. Prof. Nguyen Hai Ke (HNU), Mr. Tran Doan Lam (The Gioi Publisher), and participants also made comments and questions.

http://www.vdf.org.vn/

Thursday, 14 June 2007

Entry for June 14, 2007

Trưa nay đi ăn cùng hội Phan An, Atula, Janus - đều là những tay hào kiệt đất Bắc Hà. Chỉ nội trong bữa trưa thôi mà mấy anh em say sưa bàn luận bao chuyện về lịch sử, tôn giáo, du hí. Từ những câu chuyện thật là thú vị và rất đời của đức Phật (được chép trong Kinh hẳn hoi), đến những nghi vấn về sự mâu thuẫn giữa Kinh Tân Ước và Cựu Ước trong Ki-tô giáo; rồi lại đàm luận về xã hội Việt Nam thời những giáo sỹ Tây phương đầu tiên đến truyền đạo, về những nhân vật lịch sử gây tranh cãi,... Mấy anh em toàn những kẻ từng rảo bước tới nhiều vùng đất xa ngái lại được dịp trao đổi với nhau về kinh nghiệm ngao du nơi xứ Phật Ấn Độ, Tây Tạng; đất nước Triệu Voi hay xứ Ba Tư đằm thắm... Nhưng trước mắt, theo sự giới thiệu của Nút, mấy anh em sẽ thu xếp qua con đường ngoại giao một chuyến đi đảo xa Quan Lạn - nơi mà hàng trăm năm thời gian và chiến tranh dường như không chạm tới - để mục kích những công trình kiến trúc không thể nói là tầm thường. Atula đã ngay lập tức ngoại suy rằng, nếu ở nơi đảo xa mà người Việt ta đã làm được như vậy thì nơi bản địa đô thành các vị tiền nhân hẳn đã từng dựng xây nên những công trình vật chất còn hoành tráng hơn nhiều.

Kết thúc bữa trưa, mấy anh em kéo nhau ra cửa hàng Madam Hoa nhặt nhạnh sách mới. Dưới đây là những cuốn mình tha lôi về để làm lương khô gặm dần cho tháng 6:

1. THƯỢNG CHI VĂN TẬP - Phạm Quỳnh

Bộ sách Thượng Chi văn tập của Phạm Quỳnh vừa được tái bản sau lần xuất bản đầu tiên vào 1943. Khác với lần in cách đây 63 năm của NXB Alexandre de Rhodes với năm quyển, lần này toàn bộ trước tác được NXB Văn Học in trọn trong một tập, dày 1.129 trang.

Bộ Thượng Chi văn tập (Tập văn của Thượng Chi - bút hiệu của Phạm Quỳnh) bao gồm các bài viết về các đề tài: triết học, khái niệm làm báo, tư tưởng đông Tây, văn hóa Việt Nam, ngôn ngữ Việt Nam, một số câu chuyện cá nhân...
Đây là những tác phẩm quan trọng của Phạm Quỳnh - một nhân vật lịch sử đặc biệt. Bấy lâu người ta vốn dè dặt khi nhắc đến Phạm Quỳnh bởi ông làm việc cho Pháp, làm báo tiếng Pháp, cộng sự với Pháp suốt trong thời Pháp thuộc đầu thế kỷ 20. Nhiều người biết đến Phạm Quỳnh qua tạp chí Nam Phong do ông làm chủ bút từ 1917-1932 và qua câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.MT(Theo TTO)

2. VIỆT NAM THỜI TÂY SƠN - LỊCH SỬ NỘI CHIẾN 1771 - 1802 (Tạ Chí Đại Trường)

Nội dung:
Phần 1: Sự tan rã ở Nam Hà (1771 - 1785).

Chương 1: Các lực lượng trong và ngoài nước đến khoảng năm 1775.

Chương 2: Gia Định, đất tranh chiếm quyết liệt.
Phần 2: Sự tan rã ở Bắc Hà và phản ứng dội ngược khi Tây Sơn bành trướng (1786 - 1789).

Chương 3: Chiến tranh Bắc Hà.

Chương 4: Họ Nguyễn trung hưng.
Phần 3: Giai đoạn thanh toán Nguyễn - Tây Sơn (1789 - 1802).

Chương 5: Sự củng cố đôi bên ở thế giằng co.

Chương 6: Gia Định và Phú Xuân đối đầu.

Chương kết.

Phụ lục

Thật thú vị là NXB CAND là nơi cho ra đời cuốn sách này!

3. LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO - Edward Conze
Đôi nét về Edward Conze:

EDWARD CONZE - MỘT DỊCH GIẢ PHẬT GIÁO VĨ ĐẠI Ở PHƯƠNG TÂY
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng


Tiến sĩ Edward Conze (1904-1979) là một trong những học giả, dịch giả Phật Giáo vĩ đại nhất ở Tây Phương. Là nhà nghiên cứu đứng đầu trong tất cả các tông phái Phật Giáo, ông thông thạo những ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Trung Hoa, Tây Tạng, Mông Cổ và Nhật Bản. Trong hơn ba mươi năm, ông là giảng viên tâm lý học ở đại học... (toàn văn bài giới thiệu này xin đăng ở entry khác)

4, 5. Tiểu thuyết mới nhất của Hồ Anh Thái và được trông đợi nhất hiện nay: "ĐỨC PHẬT, NÀNG SAVITRI VÀ TÔI", cộng thêm "TIẾNG THỞ DÀI QUA RỪNG KIM TƯỚC" trong series về Ấn Độ và Phật giáo.
Chắc không cần nói nhiều về HAT và 2 cuốn này.

6,7. Bộ 2 cuốn của Lý Nhuệ: "CHỐN XƯA" và "NGÂN THÀNH CỐ SỰ".

Mấy bài giới thiệu về 2 cuốn này:
“Chốn xưa” và nỗi đau ám ảnh

“Chốn xưa”, một tên sách quá bình dị mà chứa đựng đầy sức nặng trong từng trang viết, với cái nhìn thẳm sâu về lịch sử Trung Quốc thế kỷ hai mươi, một thế kỷ của sự đổi thay và thảm họa.

Nhà văn Lý Nhuệ sinh năm 1950 tại Bắc Kinh, là một trong những cột trụ lớn nhất của văn học Trung Quốc đương đại.
Với Chốn xưa, độc giả bị day dứt, ám ảnh về các con số cứ giở đi lật lại: cuộc bạo động của nông dân 5 huyện thuộc Ngân Thành tháng 12 năm 1927, hơn 3.800 người nông dân bị bắn chết và chém cổ bêu đầu, 57 Đảng viên bị chém và bêu đầu cho tới khi nhìn thấy 57 bộ xương sọ.
Ngày 14 tháng 12 năm 1951, tức ngày hai mươi bốn tháng Chín âm lịch, đúng tiết sương giáng - 108 người bị hành hình tại đại hội trấn áp phản cách mạng... Mỗi mốc thời gian đó thường được nhắc lại vài lần một cách có chủ ý, khiến người đọc lập tức bị thuyết phục bởi tính chân thực bên trong câu chuyện.


Câu chuyện có nhiều tuyến nhân vật, mà trong đó mỗi nhân vật đều khắc đậm dấu ấn cá nhân, đều là những cái tên gợi nhiều cảm xúc.
Viên tướng Dương Sở Hùng giỏi giang, uy danh nổi khắp bốn phương, mưu trí trong những trường hợp không còn hi vọng; hai thiếu nữ xinh đẹp ở biệt thự Vườn Trúc - Thu Vân và Tử Vân; câu chuyện dài về mâu thuẫn giữa hai dòng họ Lý - Bạch; uẩn khúc sinh ly tử biệt, cải tử hoàn sinh của nhà Cửu Tư Đường; những cuộc tình giằng co trong man dại, dẫn những người họ hàng như Dương Phượng Nghi và cô em họ Liễu Quỳnh Cư trở thành kẻ thù không đợi trời chung kéo theo những án mạng oan khuất...
Có quá nhiều thứ ở Ngân Thành thay đổi. Những nét đẹp được coi là biểu tượng của thành phố lần lượt bị tàn phá bởi ý chí con người như cây hoè năm trăm tuổi, hai cổng đá uy nghiêm rốt cuộc cũng bị xô đổ, bức tường đá từng dính đầy óc trắng, máu đỏ của 108 con người...
Chốn xưa gây bàng hoàng vì không né tránh thảm khốc, lần lượt mô tả những đổ vỡ cả về tính mạng, tinh thần và cảnh sắc của Ngân Thành trong một thời đại dâng tràn chảy xiết. Nhưng chính trong cái vòng luẩn quẩn của sự tự huỷ hoại của một giai đoạn lịch sử huy hoàng và đau thương viết bằng máu người, có thể thấy rõ con người, có thể thấy rõ tinh thần và tình cảm người Trung Quốc.
Lý Nhuệ đã giải thích: “Hầu hết những nhân vật chính trong tiểu thuyết của tôi đều chết, họ không làm anh hùng để chết, họ chết trong dòng chảy của lịch sử. Không thể trốn chạy cái chết trong những năm tháng ấy, ý nghĩa của những cái chết và bao năm tháng cuộc đời mất đi khiến tôi cảm thấy sâu sắc nỗi đau của con người, vì con người”.

NGÂN THÀNH CỐ SỰ

Huỳnh Mai Liên

Để viết hơn 130.000 chữ trong "Ngân Thành cố sự", Lý Nhuệ mất tới một năm. Rồi ông lại bỏ bẵng 3 tháng trời để lao vào sửa sang. Kỳ công ấy sáng lấp lánh trong những áng văn hay, sóng sánh tình trong cảnh sắc, trong con người, và nhất là nỗi đau.
"Tính vô lý của lịch sử trở thành nhân vật chính trong hai tác phẩm của tôi. Tính vô lý của lịch sử đã dìm chết sinh mạng con người, khiến tôi thể nghiệm sâu sắc rằng lịch sử vô lý nhất lại được tạo ra từ nhân loại có lý tính nhất, con người tự tạo ra cảnh khốn cùng không thể giải thoát của mình. Đó là một bi kịch lớn, một nỗi đau vô cùng tận". (Lý Nhuệ)
Giống như Chốn xưa, cuốn sách có khoảng thời gian cách Ngân Thành cố sự 10 năm, Lý Nhuệ không thôi khắc khoải trước nhân vật mà có lẽ dù cố kìm nén, ông không khỏi thốt tên vài lần trong tác phẩm: LỊCH SỬ. Ông giãi bày suy nghĩ của mình: "Chứng kiến mọi người ra sức đi tìm cho mình lý do thiêng liêng để giết người, bạn thật sự tuyệt vọng đối với bản thân. Khi con người trao lý tính cho lịch sử, thì thường là biến lịch sử thành những lời bịp bợm có lợi cho mình. Cái gọi là "lịch sử khách quan chân thực" chớp mắt trở thành những lời dối trá về khách quan chân thực. Tất cả những lời dối trá đều coi thường sinh mạng con người. Tôi muốn vớt những sinh mạng bị chết sặc bởi những lời dối trá lên cho mọi người xem".
Ngân Thành cố sự mở đầu bằng một sọt tre máu me đầm đìa đựng những mảnh xác của viên Tri phủ của Đồng Giang – Viên Tuyết Môn. Ngay tiếp đó là những xác người không đầu với những cái đầu lấm bùn và máu lần lượt được treo trong sọt. Và suốt chiều dài của mấy trăm trang sách, cứ lúc lúc lại hình dung cảnh thịt người bầy hầy tanh tưởi. Trong đó có cái chết chất chồng của đám nông dân chưa một ngày dùng đao kiếm, có nỗi oán hận của người thợ sắt Nhạc Thiên Nghĩa bỗng dưng trở thành vị Đại Nguyên soái không biết cưỡi ngựa, có vụ tự sát dưới hầm cất giữ tiền của dòng họ Lưu danh giá, có cả những
cái chết tức thì không sao cắt nghĩa nổi của viên tướng trẻ Lưu Chấn Võ...
Dường như vì không khí tanh nồng nên có quá ít chỗ nương náu cho tình yêu. Chỉ duy nhất Lưu Lan Đình trong cơn quẫn trí lao vào người vợ đang chửa để tìm cớ giải tỏa tinh thần đang dồn nén đến kiệt quệ. Còn lại là cô gái Nhật Hideyama Hoko quỳ gối khóc than trước cái đầu thờ ơ của Âu Dương Lang Vân. Và đâu đây, giữa thế giới bọt bèo của bánh phân trâu là một tình yêu thậm chí không dám tỏa trong lòng khách trâu Vượng Tài.
Ngân Thành cố sự có nhiều đoạn miêu tả rất lắng đọng. Nó giống như thành phố hoa lệ và sầm uất trong thế giới Nghìn lẻ một đêm, qua con mắt của những người Nhật lần đầu tiên đến đây. Từ dòng sông sâu thẳm các khúc quanh của thời gian và chứng tích. Từ 30.000 chú trâu to khỏe kéo cọn nước với 1.200 nài trâu, 6.000 phụ xe thấp thoáng khắp nơi trong không gian cũ kỹ của Ngân Thành. Từ món cá Thoái Thu với cách nấu đặc biệt cầu kỳ với loài cá toàn thân trắng như tuyết, chỉ sống trong dòng nước ngầm và được coi như món ăn dành cho thần tiên. Từ biệt thự Tùng Sơn với những lầu các sánh vai nhau... Những cảnh sắc ấy điểm xuyết trong tấn bi kịch hãi hùng của Ngân Thành càng khiến câu chuyện trĩu nặng day dứt. Nó khiến người ta chẳng tránh khỏi những tiếng thở dài khi suy ngẫm về chiều sâu của lịch sử Ngân Thành.
Sẽ là thiếu sót lớn nếu nhắc tới Ngân Thành cố sự mà lãng quên bốn câu thơ cổ ngâm vịnh hàng nghìn năm nay được Lý Nhuệ đưa vào làm tiêu đề cho bốn chương sách: "Hoàng Hà tuôn nước từ mây trắng/Tòa thành cô độc giữa ngàn non/Sáo Khương sao nỡ oán Dương Liễu/Gió xuân không tới ải Ngọc Môn". Giữa một câu chuyện dài với hằng hà chi tiết mà nhà văn dày công tựa như người ghi chép lịch sử; giữa một khoảnh khắc biến động với ngùn ngụt nỗi đau chất vợi - bật lên khúc bi ca muôn thuở của người Trung Quốc, khiến người ta dường như tiếp nhận tự nhiên và thấm thía hơn.