Showing posts with label canhtranhchongdocquyen. Show all posts
Showing posts with label canhtranhchongdocquyen. Show all posts

Tuesday, 12 May 2009

Antitrust policy

Christine Varney - Cựu luật sư, nhà vận động hành lang, cố vấn luật pháp và là tân Cục trưởng cục chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ vừa mới công bố chính sách mới của chính phủ Obama đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh của các công ty, tập đoàn lớn theo hướng siết chặt hơn (trở lại kiểu can thiệp mạnh tay thời Clinton). Giờ thì chính quyền sẽ không còn ủng hộ các đại gia trong các vụ kiện như dưới thời tổng thống Bush (chính sách mà Varney cho là "extreme hesitancy in the face of potential abuses by monopoly firms") nữa mà khuyến khích các công ty nhỏ đâm đơn khiếu kiện đối với các hành vi phản cạnh tranh đối với họ tới Bộ Tư pháp. Đối với một số vụ độc quyền lớn thì chính Bộ này sẽ tiến hành điều tra xử lý. 
Trong 8 năm cầm quyền, nước Mỹ đã phải nhường bước cho Brussels trở thành thủ đô của các cơ quan điều tiết cạnh tranh khi lần lượt gõ đầu các công ty Mỹ như Microsoft hay Intel lôi ra tòa.
Ngay lập tức GS. Mankiw, vốn là cố vấn kinh tế của Bush, bày tỏ quan ngại sẽ có thêm những vụ kiện với quy mô tương tự như Microsoft - vụ mà ông cho rằng là một sai lầm chính sách - trong tương lai. Trích dẫn lại một bài báo của chính mình cách đây hơn chục năm, GS Mankiw bình luận rằng, có lẽ trong thế kỷ 21, công ty nào có những luật sư tốt nhất (chứ không phải có các lập trình sư giỏi nhất) sẽ thống trị ngành  phần mềm.
Trong bản tin của mình, tờ Financial Times cho rằng sự thay đổi chính sách này sẽ tác động mạnh nhất đến ngành tài chính. Tờ báo này đưa tin chính bà Varney cũng đặt ra câu hỏi liệu việc thực thi chính sách chống độc quyền có thể ngăn chặn việc mở rộng quy mô các công ty trong ngành này có phải là một nguy cơ đối với toàn bộ hệ thống tài chính hay không.

Tuesday, 5 May 2009

Antitrust in China

Hôm nay trên mục bình luận chính của Financial Times (Mục này có slogan là Không sợ và không thiên vị – “Without fear and without favour” có bài nói về thực thi chống độc quyền của Trung Quốc.

http://www.ft.com/cms/s/0/c7236f86-38d4-11de-8cfe-00144feabdc0.html

Luật Chống độc quyền của nước này mới được đưa ra từ tháng 8 năm ngoái – tức là còn chậm hơn 3 năm so với Việt Nam, thế nhưng đến nay cơ quan thực thi Luật này – Bộ Thương Mại - đã xử lý 3 vụ làm kinh ngạc giới kinh doanh và giới Luật sư Mỹ - Âu. Vụ mới nhất thông báo cách đây vài ngày là quyết định hạn chế thương vụ thâu tóm hãng hóa chất Lucite International của Vương Quốc Anh của tập đoàn Mitsubishi Rayon (Nhật Bản) trị giá 1.8 tỷ USD (Trung Quốc là nước duy nhất trên thế giới không chấp nhận cho vụ này tiến hành), buộc công ty của Anh phải bán lại một nửa bộ phận sản xuất hạt nhựa (polymer). Hồi tháng 3, cơ quan này đã bác bỏ đề nghị của Coca Cola mua lại hãng nước ngọt Hối Nguyên (Huiyuan) của Trung Quốc với giá 2.4 tỷ USD, một động thái mà ngay cả nhiều luật sư M&A cũng bất ngờ. Trước đó, thương vụ mua lại trị giá 52 tỷ USD của InBev đối với Anheuser-Busch cũng bị hạn chế, dù rằng vụ sáp nhập này, cũng như vụ Mitsubishi-Lucite là các vụ sáp nhập quốc tế và các bên tham gia chỉ có một bộ phận hoạt động tại Trung Quốc.

Một trong hai tờ nhật báo kinh doanh có ảnh hưởng nhất trên thế giới này (cùng với Wall Street Journal) nhận định một số điểm đáng chú ý sau từ các vụ sáp nhập trên:

1/ Bộ Thương Mại Trung Quốc tỏ ra rất cứng rắn thực thi luật chống độc quyền

2/ Trung Quốc không hề do dự can thiệp vào các vụ sáp nhập xuyên biên giới lớn

3/ Cùng với Mỹ và Liên minh châu Âu, Trung Quốc trở thành một trọng tài về cạnh tranh tầm cỡ toàn cầu, cung cấp thêm cho các luật sư M&A thêm một đống công việc mới cần giải quyết

FT cũng cho rằng các phán quyết nêu trên là không chi tiết ở mức cần có. Ví dụ, phán quyết vụ Mitsubishi/Lucite chỉ dài chưa tới 2 trang (mặc dù đã có tiến bộ hơn so với hai phán quyết trước).

Nếu so với thông lệ các phán quyết tương tự của các cơ quan cạnh tranh khác (thường phải vài nghìn trang) thì rõ ràng dù súc tích đến đâu thì 2 trang cũng khó mà giải thích được rốt ráo lý do phản đối sáp nhập. Cơ sở của phán quyết là công ty hình thành sau sáp nhập có thể có thị phần 64% đối với methyl methacrylate (hóa chất dùng để sản xuất nhựa trong) và không thực sự thuyết phục về quan ngại liên quan đến cạnh tranh. Vụ Coke thì bị cho rằng để bảo vệ một thương hiệu quen thuộc trong nước sau một cuộc phản đối thương vụ này trên mạng Internet vì nhiều người tiêu dùng lo rằng Coke sẽ “thủ tiêu” cái tên Hối Nguyên sau khi mua được. Vụ InBev/Anheuser-Busch cũng làm giới luật sư đau đầu với phán quyết tuyên rằng không có quan ngại về cạnh tranh, nhưng vẫn áp đặt các hạn chế đối với công ty sau sáp nhập. Bắc Kinh có quyền thực thi luật chống độc quyền. Với thị trường lớn một cách đáng kể đủ để có tiếng nói không kém gì so với Washington hay Brussels trong các vụ sáp nhập. Nhưng FT cho rằng: 

Trung Quốc cần phải công bằng, không để lẫn lộn giữa chinh sách công nghiệp và chống độc quyền – một điều mà nhiều người quan ngại sau vụ bác bỏ thương vụ Coke. Nếu động thái của Bắc Kinh được hiểu là tiến hành chủ nghĩa bảo hộ dưới lớp vỏ chống độc quyền, các chính phủ khác sẽ đáp trả. Và điều này có thể dẫn tới một cuộc chiến thương mại mang tính trả đũa. Từ giờ trở đi, các phán quyết chống độc quyền của Trung Quốc cần được giải thích kỹ càng hơn. Nếu không thực sự có quan ngại về cạnh tranh, các thương vụ cần được cho phép tiến hành mà không bị cản trở.

 

Bình luận:

Một bài ngắn, nhưng FT đã chỉ ra được đúng vấn đề mấu chốt (mặc dù chỉ ở dạng đặt câu hỏi): Phải chăng Trung Quốc đang sử dụng Luật Chống độc quyền để thực hiện bảo hộ thương mại, thực thi chính sách công nghiệp? Tôi nghĩ rằng câu trả lời là: Đúng vậy. Đó là bản chất, mặc dù từ "bảo hộ thương mại" (protectionism) không phải là một từ dễ nghe. Nhưng chẳng phải trong hội nghị G-20 vừa rồi các nhà lãnh đạo thế giới đều "tỏ ra quan ngại trước xu hướng gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ" đó hay sao? Ai mà làm các nguyên thủ các nước phát triển quan ngại được? Chính là giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau đang lăm le bảo vệ các ngành sản xuất chủ chốt trong nước đang cắm đầu xuống đất chứ không phải mối quan ngại đến từ các nước đang phát triển. Cùng lúc, họ lại kêu gọi các nước khác đừng bảo hộ nhé, tức là "beggar thy neighbors" (cụm từ dạo này tờ The Economist thường dùng). 

Một trong những điểm quan trọng của đồng thuận Washington (Washington Consensus) là thúc đẩy nới lỏng kiểm soát của nhà nước (deregulation), khuyến khích cạnh tranh giữa mọi thành phần kinh tế. Điều này thì tất nhiên là đúng với châu Âu và Mỹ rồi, vì các doanh nghiệp của các nước này thừa đủ sức để cạnh tranh với nhau và cạnh tranh với bất kỳ ai trên thế giới, không cần sự can thiệp của nhà nước. Nhưng điều đó chỉ đúng trong hiện tại (hiện tại theo nghĩa là trước khủng hoảng kinh tế 10/2008). Và không hẳn đã đúng trong quá khứ phát triển của chính các nước đó. Tự do thương mại không phải là một khái niệm được yêu thích khi Mỹ và các nước châu Âu ở giai đoạn đầu công nghiệp hóa. Không nước nào phát triển được mà không sử dụng chính sách bảo hộ công nghiệp. Một trong biện pháp được ưa thích trước đây (cùng với hàng rào thuế quan và trợ cấp của nhà nước cho các ngành then chốt) chính là chính sách cạnh tranh. Đây là một câu chuyện lịch sử thú vị tôi sẽ bàn ở một dịp thích hợp. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ làm chính sách thì sự tung hứng khéo léo giữa ba chính sách: công nghiệp – thương mại – cạnh tranh là chìa khóa để đưa một quốc gia từ tình trạng đang phát triển trở thành nước công nghiệp phát triển (Máu và xăng cho tiến trình phát triển đó là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ). Dường như nhà nước Trung Quốc đã học rất kỹ lịch sử kinh tế phương Tây và đang áp dụng lại bài học đó.

Các nước đang phát triển ngày nay có cần một chính sách chống độc quyền theo kiểu Mỹ hay không?

Thực ra Mỹ không phải là nước đầu tiên có luật về cạnh tranh. Từ năm 1810, nước Pháp đã áp dụng Điều 419 Bộ Luật Hình sự, theo đó liên kết giữa những người bán bị coi là phạm pháp. Sự bắt tay đó sẽ làm tăng hoặc giảm giá trên hoặc dưới mức “cạnh tranh tự nhiên và tự do”. Tuy nhiên, điều luật này không được áp dụng đầy đủ và bị bãi bỏ vào năm 1880. Từ thập kỷ 1890, tòa án Pháp bắt đầu chấp nhận cho phép các cartel “có tính chất tự vệ” và ủng hộ các thỏa thuận đó. Chỉ đến năm 1986 (tức là hơn 100 năm sau) thì nước Pháp mới khôi phục Điều 419 và áp dụng một luật chống độc quyền “hiện đại” và đầy đủ như hiện nay.

Nước Mỹ là quốc gia tiên phong trong luật cạnh tranh “hiện đại”. Luật Sherman ra đời năm 1890, nhưng 5 năm sau mới được Tối cao Pháp viện dẫn chiếu trong vụ Sugar Trust. Trước thời điểm năm 1902, khi tổng thống Roosevelt dùng nó để chống lại Northern Securities Company của JP Morgan nắm giữ hệ thống đường sắt, luật này chủ yếu chỉ để chống lại công đoàn chứ không phải với các đại công ty. Roosevelt lập ra Cục Công ty (Bureau of Corporations) năm 1905 để điều tra các hoạt động sai trái của các công ty; và Cục này được nâng cấp thành Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) vào năm 1914 bằng Luật Clayton (luật này cũng cấm dùng pháp luật chống độc quyền để chống công đoàn).

Trong thế kỷ 19, nước Anh không ủng hộ cũng chẳng lên án các tập đoàn độc quyền và các hành vi phản cạnh tranh. Tuy nhiên, cho tới trước Thế chiến thứ Hai, tòa án nước này thường thiên về luận cứ ủng hộ các thỏa thuận hạn chế thương mại. Luật chống độc quyền đầu tiên mang tên Profiteering Act chỉ tồn tại có 2 năm (từ 1919 đến 1921), được ra đời để đối phó với tình trạng thiếu hụt hàng hóa sau chiến tranh. Trong thời Đại Khủng hoảng thập kỷ 1930, nước Anh hậu thuẫn cho việc hình thành các cartel. Chỉ đến năm 1948, khi Luật xử lý độc quyền và hạn chế thương mại mới xác định khuôn khổ pháp luật chống độc quyền, nhưng hầu như nó không có hiệu lực thực thi. Luật xử lý Hạn chế thương mại (Restrictive Practices Act) năm 1956 mới thực sự là luật chống độc quyền theo nghĩa là lần đầu tiên các hành vi hạn chế cạnh tranh bị coi là đi ngược lại quyền lợi của công chúng từ khi doanh nghiệp có thể chứng minh điều ngược lại. Luật 1956 chống các cartel một cách có hiệu quả, nhưng vẫn hầu như không thành công đối với quá trình độc quyền hóa thông qua sáp nhập.

Tương tự thế, ban đầu nước Đức ủng hộ các cartel mạnh mẽ, và tiếp sức cho các thỏa thuận cartel trong thời kỳ đầu (cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20). Mục đích là để tạo ra một nền công nghiệp đủ mạnh để vươn lên cạnh tranh với các nước đã phát triển trong thời kỳ trước đó như Anh, Mỹ, Pháp. Đỉnh điểm là một phán quyết ban hành năm 1897 của tòa án tối cao nước này theo đó cartel là hợp pháp. Kể từ Thế chiến thứ Nhất trở đi, quá trình cartel hóa ngày càng mở rộng, và là một phương thức để nhà nước thực hiện kế hoạch hóa nền kinh tế.  Luật Cartel năm 1923 trao quyền vô hiệu hóa cartel cho tòa án là luật cạnh tranh tổng quát đầu tiên ở châu Âu. Tuy vậy, luật này vẫn không được thực thi, vì cartel được định nghĩa rất hẹp và cơ quan được trao quyền thực thi luật này (Bộ Kinh tế và tòa án cartel) chẳng hề áp dụng luật lấy một lần. Tòa án cartel bị giải thể năm 1930 khi một loạt các luật khẩn cấp trao quyền cho nhà nước giải thể bất kỳ cartel nào nếu thấy cần thiết. Năm 1933, ngay khi Hitler lên nắm quyền, Bộ Kinh tế được trao quyền phủ quyết bất kỳ cartel nào nhưng lại có thể ra nghị định thành lập các cartel bắt buộc.

Các nước phát triển khác (Na Uy, Đan Mạch, Nhật Bản) cũng sử dụng luật chống độc quyền theo cách tương tự trong lịch sử.

Tương tự như chính sách cạnh tranh, các chính sách công nghiệp và thương mại cũng đã thể hiện xu hướng bảo hộ và trợ giúp công nghiệp nội địa còn non trẻ (infant industry – Alexander Hamilton, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của nước Mỹ là người tạo ra khái niệm này, khi thuyết phục Quốc hội Mỹ gia tăng hàng rào bảo hộ - cũng là người có mặt trên tờ $10) tập trung kinh tế (đặc biệt là các ngành then chốt – hay các commanding heights (chữ dùng của V.I. Lenin áp dụng trong NEP-Chính sách kinh tế mới-thời kỳ phôi thai của nhà nước Xô Viết) để phát triển đủ sức cạnh tranh và lớn mạnh trên phạm vi thế giới. Ngược lại, một nước nào đang trong giai đoạn đầu của phát triển, nếu chấp nhận cạnh tranh tuyệt đối theo kiểu thị trường của chủ nghĩa tân tự do, thì, lịch sử đã chứng minh, sẽ chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp nhân công lao động giá rẻ và tài nguyên tự nhiên cho các nước phát triển mà thôi. Một đứa trẻ nếu bị quăng ra thị trường lao động để kiếm tiền năm nó 10 tuổi thì nó chỉ có thể làm được những việc lặt vặt để có hai ba chục nghìn mỗi ngày. Cũng một đứa trẻ đó, nếu bố mẹ nó bỏ tiền nuôi nó ăn học đến năm tốt nghiệp đại học, thì sau đó nó có thể tự lo cuộc sống và có một nghề nghiệp vững vàng trong xã hội.

Monday, 27 April 2009

Vụ kiện mở đường cho luật chơi về cạnh tranh

Vụ kiện mở đường cho luật chơi về cạnh tranh

Vụ kiện giữa Jetstar và Vinapco là vụ kiện đầu tiên được Hội đồng Cạnh tranh Quốc gia đưa ra giải quyết về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo Luật Cạnh tranh.
Máy bay của hãng hàng không Jetstar.
 
Kết quả là Vinapco đã bị phạt 3 tỉ đồng vì vi phạm và kèm theo đó, Hội đồng Cạnh tranh Quốc gia đã chấp thuận ý kiến của Jetstar kiến nghị với các cơ quan liên quan để tách Vinapco khỏi Vietnam Airlines.

Từ một vụ kiện mới và lạ

Vụ kiện phát sinh từ việc Vinapco ngưng cung cấp xăng cho các máy bay của Jetstar vào ngày 1/4/2008 dẫn đến hậu quả hàng loạt máy bay của Jetstar phải “nằm sân” còn hành khách của Jetstar thì phải “nằm vạ nằm vật” tại các sân bay do hoãn, hủy chuyến.

Vụ án này lạ bởi phương thức giải quyết và hệ quả từ vụ kiện. Đây là một tranh chấp thương mại và có thể giải quyết bằng nhiều cách thức. Cách truyền thống là kiện ra tòa để giải quyết theo hợp đồng mua bán xăng giữa hai bên.

Tuy nhiên, nếu khởi kiện bằng một vụ án kinh tế thông thường, khả năng thắng lợi của Jetstar là không chắc chắn vì Vinapco cũng có lý khi Jetstar vẫn còn nợ tiền mua xăng của Vinapco. Hơn nữa, để chứng minh thiệt hại từ việc hủy chuyến bay, từ sự thiệt hại về uy tín... là điều rất khó đối với Jetstar.

Điều quan trọng là nếu đi theo hướng tranh chấp hợp đồng thông thường, ngay cả khi Jetstar thắng kiện, nguyên nhân căn bản của vụ tranh chấp vẫn còn: Jetstar sẽ vẫn phải mua xăng của Vinapco vì Vinapco vẫn độc quyền bán xăng tại các sân bay.

Vì vậy, kiện tại Hội đồng Cạnh tranh Quốc gia theo Luật Cạnh tranh là một chọn lựa thông minh. Vinapco sẽ chứng minh thế nào khi mà từ trước đến nay, chỉ có Vinapco một mình một chợ bán xăng tại các sân bay Việt Nam.

Vị trí độc quyền của Vinapco là khá rõ ràng. Hơn nữa, Hội đồng Cạnh tranh Quốc gia còn có thể xóa bỏ vị thế độc quyền của Vinapco trong việc phân phối xăng tại các sân bay khi tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khác thâm nhập thị trường này.

Phân tích kết quả vụ kiện trên, ta nhận thấy rằng thiệt hại của Vinapco không chỉ là số tiền phạt 3 tỉ đồng mà quan trọng là khả năng bị tách ra khỏi “bầu sữa” Vietnam Airlines và phải tự đương đầu với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác trong tương lai.

Phán quyết này đánh thẳng vào vị thế độc quyền của Vinapco - nguyên nhân sâu xa dẫn đến tranh chấp. Đấy mới là thiệt hại to lớn nhất mà Vinapco phải gánh chịu từ vụ kiện.

Nhưng với Jetstar, thắng lợi không được tính bằng 3 tỉ đồng mà Vinapco bị phạt (vì số tiền này sẽ nộp cho Nhà nước chứ Jetstar không hưởng được đồng nào) mà là phá được thế độc quyền của Vinapco trong việc cung cấp xăng cho máy bay.

Khi Vinapco không có được độc quyền nữa, Jetstar sẽ có cơ hội chọn nhà cung cấp xăng cho mình, chứ không còn bị lệ thuộc hoàn toàn vào Vinapco theo kiểu “không có xăng thì đố máy bay bay được”.

Suy rộng hơn, thị trường phân phối xăng cho máy bay đã được mở ra cho các doanh nghiệp tiềm năng muốn thâm nhập thị trường này. Hành khách cũng có quyền hy vọng giá vé sẽ giảm khi mà giá xăng giảm do sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp.

Đến khả năng bảo vệ doanh nghiệp nhỏ trong cạnh tranh

Đã có thời kỳ khi tranh chấp xảy ra, doanh nghiệp nghĩ ngay đến việc nhờ sự can thiệp của cơ quan công an. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại và dân chủ, quyền hạn của cơ quan công an khi can thiệp vào các tranh chấp dân sự (trong đó có tranh chấp thương mại) là rất hạn chế. Doanh nghiệp cũng có thể yêu cầu tòa án xét xử tranh chấp của mình. Tuy nhiên, thủ tục tố tụng tại tòa án khá cứng và mất thời gian.

Gần đây, với sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, doanh nghiệp đã biết thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp của mình tại trung tâm trọng tài hoặc trọng tài vụ việc do các bên tự lập nên. Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp trên đây đều có thể áp dụng cho từng hoàn cảnh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, qua vụ kiện giữa Jetstar và Vinapco, doanh nghiệp nhận ra một cách thức giải quyết tranh chấp mới: kiện tại Hội đồng Cạnh tranh Quốc gia theo Luật Cạnh tranh. Mặc dù cách thức kiện này là khá mới ở Việt Nam nhưng nó có thể giúp doanh nghiệp giải quyết những vấn đề mà các cách giải quyết tranh chấp khác không đạt được.

Đã có lần chúng ta nghe nhắc đến tranh chấp giữa hãng bia T với một đại lý độc quyền C khi hãng bia T ngăn cản đại lý C bán bia của một hãng khác. Hãng bia T đã thắng cả trong phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm do hãng bia T, căn theo hợp đồng đại lý độc quyền đã ký, chứng minh được đại lý đã vi phạm nghĩa vụ “độc quyền” - chỉ được quyền bán bia của hãng T.

Tuy nhiên, nếu nhìn dưới góc độ Luật Cạnh tranh, hợp đồng đại lý độc quyền đã ngăn cản sự thâm nhập thị trường của một hãng bia khác. Người tiêu dùng, mặc dù rất muốn uống bia của hãng bia mới này nhưng vẫn phải dùng bia của hãng T vì không còn chọn lựa nào khác.

Hợp đồng đại lý độc quyền đã hạn chế quyền tự do chọn lựa hàng hóa/dịch vụ của người tiêu dùng. Do vậy, nếu vụ tranh chấp được giải quyết theo Luật Cạnh tranh, chưa thể khẳng định được khả năng thắng lợi của hãng bia T khi mà hợp đồng đại lý độc quyền có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh.

Quay trở lại vụ Jetstar - Vinapco, kết quả vụ kiện này mở ra một tiền lệ cho việc giải quyết các tranh chấp về cạnh tranh và chống độc quyền. Hơn nữa, nó thức tỉnh nhận thức của doanh nghiệp về một công cụ pháp luật mới để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhằm chống lại các doanh nghiệp độc quyền, nhất là trong giai đoạn thâm nhập vào thị trường.

Đây có thể là công cụ hữu hiệu của doanh nghiệp nhỏ trong quá trình kinh doanh nếu doanh nghiệp nhận biết và sử dụng được biện pháp tự vệ này. Hơn nữa, các doanh nghiệp độc quyền hoặc độc quyền nhóm sẽ phải cẩn thận hơn trong hoạt động kinh doanh của mình để tránh bị kiện theo Luật Cạnh tranh.

Cuối cùng, người tiêu dùng sẽ có cơ hội chọn lựa các hàng hóa, dịch vụ tốt với giá hợp lý là kết quả từ quá trình cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà cung cấp.

Theo Trần Thanh Tùng
Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Sunday, 26 April 2009

To big to fail

[Tham khảo về cạnh tranh và chống độc quyền]

Quá lớn để "không" thể sụp đổ. 

Với tỉ số 51-1, Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua đạo luật chống độc quyền The Sherman Act ngày 8 tháng Tư năm 1890 - đạo luật có tên của Thượng Nghị Sĩ John Sherman, thuộc đảng Cộng Hòa tiểu bang Ohio, và là Chủ Tich Ủy Ban Tài Chánh của Thượng Viện. Sau đó đạo luật này được thông qua với tỉ số tuyệt đối bởi Hạ Viện ngày 20 tháng 6 với con số 242 phiếu thuận và 0 phiếu chống. Và cuối cùng nó được ký ngày 2 tháng Bẩy, 1890 và trở thành luật bởi Tổng Thống Benjamin Harrison. 

Chính sách "Quá lớn để có thể bị sụp đổ" hay "Too big to fail" là một ý tưởng về quản lý kinh tế thị trường theo đó thì những công ty thật lớn và có nhiều liên kết dịch vụ thương mại thì không thể để bị sụp đổ hay "Too big to [let] fail." Ý tưởng này tạo ra một khuyến khích ngầm bảo rằng các công ty thật lớn có thể làm những chuyên nguy hiểm đến sự sống còn của công ty và cũng sẽ được chính phủ cứu giúp. Và từ này: "Quá lớn để có thể bị xụp đổ" được dùng rộng lớn ra khi nói đến chính sách của chính phủ Hoa Kỳ cứu giúp bất kỳ nào công ty trong tình trạng kinh tế suy thoái hiện nay. Điều nàu nẩy ra một sự quan tâm về một ý tưởng "đạo đức nguy hiểm" trong công việc thương mại hằng ngày hiện nay. 

Hai hành động của chính quyền Hoa Kỳ nêu trên mặc dù cách biệt nhau hơn một trăm năm nhưng đã được đề cập đến trong một Ủy Ban Hỗn Hợp Kinh Tế trong tuần rồi. Theo các thành viên Quốc Hội trong Ủy Ban đã bàn cãi về thứ tự quan trọng để quyết định là một công ty như thế nào để có thể gọi là "Quá lớn để có thể bị sụp đổ." 

Các kinh tế gia nổi tiếng và chủ tịch của Ngân Hàng Trung Ường tại thành phố Kansas cũng đã bàn cãi là làm sao có thể kết luận là một công ty như American International Group - AIG đã có thể gọi là có đủ "lớn" chưa để giúp đỡ. Và họ muốn Quốc Hội cắt những công ty quá lớn thành nhiều công ty nhỏ để tránh Hoa Kỳ sẽ rơi vào tình trạng như hiện nay. Theo họ đạo luật chống độc quyền The Sherman Act có thể được dùng để cắt nhỏ những công ty Hoa Kỳ trong tương lai. 

Trở lại về tinh thần của đạo luật chống độc quyền The Sherman Act thì được dùng khi một công ty có âm mưu ngăn chặn hay kiềm chế bất hợp pháp những dich vụ về trao đổi mậu dịch kinh tế hay thương mại liên hệ đến những tiểu bang hay quốc tế. Đạo luật này không cho phép cá nhân hay công ty được quyền khống chế giữ độc quyền, tìm cách giữ độc quyền hay sẽ độc quyền quản lý, kiểm soát những dich vụ kinh tế, thương mại. Thế thì tại sao chính phủ Hoa Kỳ trong những tháng gần đây lại giúp đỡ các công ty "Quá lớn để có thể bị sụp đổ" này tiếp tục vững mạnh để trong tương lai sẽ khống chế các công ty nhỏ khác? 

Nhìn vào lịch sử thì đạo luật chống độc quyền chú trọng đến sự sát nhập giữa các công ty với nhau, phẩm chất của các sản phẩm sau khi sát nhập, hay độc quyền kiểm soát giá cả hay sản phẩm trên thị trường. Và chính sách của chính phủ Hoa Kỳ từ trước đến giờ dùng đạo luật này trong tình trạng kinh tế bình thường nhưng họ chưa bao giờ đối phó với một trường hợp đặc biệt như thời kỳ khủng hoảng kinh tế và chính trị hiện nay. Họ không biết hậu quả sẽ ra sao khi đang giữa chừng của cuộc khủng hoảng kinh tế mà áp dụng đạo luật chống độc quyền thì kết quả ra sao? Không ai lường được. 

Với đạo luật chống độc quyền The Sherman Act và Clayton Act đã có sẵn, dùng nó như một đạo luật khung, và nếu quốc hội Hoa Kỳ muốn làm cho luật lệ chặt chẽ hơn thì tương đối dễ dàng trong việc này. Theo họ thì mặc dù các công ty không độc quyền - như đòi hỏi trong đạo luật Sherman Act, nhưng nếu một khi công ty trở nên quá lớn - thí dụ trong kỹ nghệ tài chánh, thì quốc hội có thể nới rộng đạo luật Sherman Act ra bằng một đạo luật mới để phá nhỏ công ty tài chánh này. Đây là một điều tế nhị và luật pháp phải công bằng, quốc hội Hoa Kỳ phải định nghĩa là thế nào là quá lớn để có thể quyết định? Hay quá lớn nhưng nếu không ành hưởng mạnh đến kinh tế Hoa Kỳ nói chung thì có thể quyết định là quá lớn hay không? 

Chưa kể đến mặt khác của vấn đề là một công ty nếu được lớn thêm như thường thấy hằng ngày tại đời sống kinh tế Hoa Kỳ, bằng cách mua lại các công ty khác hay nhập chung với nhau, tạo ra những lợi điểm cho người tiêu thụ như nhiều dịch vụ tiện lợi mới, sản phẩm mới, giảm thiểu chờ đợi. Đây là một hình thức cổ điển mà các công ty muốn bành trướng. Thực tế là ai mà chẳng muốn mình giầu có và to lớn hơn một cách hợp pháp? Như vậy có phạm vào những điều khoản của đạo luật mới hay không? 

Với Ủy Ban Hỗn Hợp Kinh Tế và trong đó quốc hội hiện nay kiểm soát bởi đảng Dân Chủ với quyết tâm trừng phạt các ngân hàng tài chánh gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế kỳ này, họ cho rằng các ngân hàng thực sự giúp đõ mạnh mẽ cho kinh tế hằng ngày là các ngân hàng nhỏ và trung. Những dịch vụ của loại ngân hàng này thường ổn định và có tính chất đổi mới thường xuyên với khách hàng cho người dân Hoa Kỳ hơn là những ngân hàng to lớn liên quốc gia nhưng chứa nhiều rủi ro. 


Trong một nền kinh tế tư bản và cần thiết cho một xã hội dân chủ[*], thay đổi một chính sách quan trọng về kinh tế thường phải trả một giá mà không ai lường được. Một đạo luật mới có thể được ban ra trong đó sẽ có những bước thang mà theo đó một công ty có thể bị phá nhỏ ra làm nhiều phần. Không ai sẽ biết được điều gì sẽ xẩy ra tiếp nếu chúng ta chấp nhận những rủi ro mới. Kinh tế với những bựớc thang có thể sẽ thành công trong những thành phố nhỏ của những tiểu bang xa xôi hẻo lánh nhưng liệu nó sẽ thành công trong những thành phố có trung tâm kinh tế thương mại quan trọng bậc nhất trên thế giới như New York? Hay chúng ta tiếp tục chấp nhận là có những công ty quá lớn để có tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống chính trị của chính phủ liên bang Hoa Kỳ. 

Không biết quyết định của quốc hội Hoa Kỳ sẽ ra sao nhưng trong đời sống kinh tế hiện nay, một công ty "Quá lớn để có thể bị xụp đổ" hay "Too big to fail" được định nghĩa là một công ty "Quá lớn để có thể quản trị nổi" hay "Quá lớn để có thể hiểu được" và nếu các ngân hàng không hiểu được và không quản trị được thì đây là điều rất nguy hiểm. Câu hỏi tiếp là liệu người dân Hoa Kỳ có muốn chính phủ Hoa Kỳ tiếp nhận những gì mà họ không hiểu được và quản lý được hay không? 

[*] Hoa Kỳ là môt quốc gia Cộng Hòa chứ không phải là Dân Chủ. Chúng ta có thể có một xã hội dân chủ nhưng trong một thể chế Cộng Hòa.