Friday, 22 May 2009

Nghị viện Anh

1. Ngày 7 tháng 3 năm 1695, Sir John Trevor (1637-1717), lúc đó là Chủ tịch Hạ viện Anh (Speaker of the House of Commons) bị cáo buộc nhận khoản hối lộ 1000 ghi-nê (trị giá tương đương với 2 triệu USD thời điểm 2009) từ chính quyền thành phố Luân Đôn để giúp thông qua một đạo luật có lợi cho thành phố này. Hành động đó được cho là "tội nghiêm trọng" và Sir Trevor đã phải từ chức và bị bãi miễn vị trí Nghị viên, dù cho lúc đầu ông phản đối với lý do sức khỏe kém (??). Tuy nhiên, số tiền nhận hối lộ đã không bị truy hồi.

2. Ngày 19 tháng 5 năm 2009, tức 314 năm sau, Hạ viện Anh (và toàn thể dân chúng) mới chứng kiến vị Chủ tịch đương nhiệm từ nhiệm. Michael Martin chỉ mất 33 giây để đọc bài diễn văn lịch sử: "Kể từ ngày tôi được bầu vào Hạ viện đến nay cách đây 30 năm, tôi luôn cảm thấy rằng Hạ viện chỉ hoạt động tốt nhất khi có sự đoàn kết. Để giữ gìn sự đoàn kết này, tôi quyết định rằng sẽ từ chức Chủ tịch Hạ viện vào ngày Chúa nhật 21 tháng 6 tới. Điều này sẽ cho phép Hạ viện tiến hành thủ tục bầu Chủ tịch mới vào ngày thứ Hai, 22 tháng 6. Đó là tất cả những điều tôi cần nói về việc này"

3. Nước Anh vẫn thường tự hào là nơi ra đời đầu tiên của chế độ Nghị viện. Năm 1066, dưới chế độ phong kiến của vua William xứ Normandy, mỗi khi luật được ban ra đều có sự tham vấn của hội đồng các lãnh chúa và giám mục. Năm 1215, hội đồng này đã có thực quyền hơn rất nhiều khi Vua John ban hành Đại Hiến chương nước Anh (aka Magna Carta), theo đó nhà vua không được thu bất kỳ loại thuế nào mà không có sự đồng thuận của hội đồng hoàng gia. Dần dà, hội đồng này phát triển thành Nghị viện (gồm Hạ viện và Nghị viện) như ngày nay.

4. Xin nhắc lại, Hiến pháp Mỹ ra đời năm 1787 và 2 năm sau, Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp ra đời năm 1789.

5. Năm 1989, Tổng thống Pháp Francois Mitterrand đã mời Margaret Thatcher tham dự lễ kỷ niệm 200 năm Cách mạng Pháp. Với phong cách quen thuộc, nữ Thủ tướng Anh đã tới Paris với thái độ thiếu khiêm tốn, chẳng coi ngày Bastille làm trọng.
Điểm chính của bài phát biểu của bà là nền dân chủ vương quốc Anh không dựa vào duy nhất một sự biến rung chuyển xã hội như sự kiện 1789. Nó được xây đắp từ những nền tảng vững chãi hơn rất nhiều nhờ vào sự thông thái và luật tục được tích lũy tự ngàn năm. Và là một nhà chính trị, bà đầm thép đã thừa khôn ngoan khi không nhắc gì đến một người có tên là Oliver Cromwell cả.

6. Michael Martin từ chức trong bối cảnh Hạ viện nước này đang nằm trong tâm điểm chỉ trích của công luận sau khi tờ báo Telegraph và một số báo khác đưa tin về sự tiêu xài lãng phí tiền thuế của người dân vào những mục đích cá nhân. Một số ông nghị bị lỗ nặng do đầu tư nhà cửa trước thời điểm khủng hoảng nên kê khai để được tăng trợ cấp. Một số ông/bà nghị nhận trợ cấp để mua tivi màn hình plasma. Bản thân Martin cũng kê khai khoản đâu đó hơn 1000 bảng tiền tài xế đưa đi đón về để xem bóng đá tại sân đội nhà Celtic. Nếu vào trang www.theyworkforyou.com người đóng thuế sẽ có được mọi thông tin về vị dân biểu của mình: tiểu sử chi tiết, ông/bà ta chi tiêu bao nhiêu, ông/bà ta đã bỏ phiếu thuận hay chống trong các dự luật thế nào, tất cả những phát ngôn của ông/bà ta tại nghị viện,...

7. Người dân Anh cũng đã bắt đầu đặt câu hỏi về sự chi tiêu của Nữ hoàng và Gia đình Hoàng gia. Bây giờ thì hai cậu ấm William và Henry tự ý đi ngoài phố chơi với bồ chưa chắc đã được an ninh bảo vệ vòng trong vòng ngoài như trước nữa. Phải cắt giảm chi tiêu thôi, biết sao giờ, độ tín nhiệm của ngân khố quốc gia còn mới bị S&P giảm từ "ổn định" xuống "tiêu cực" kia mà. Ở Thái Lan, một nước cựu bán thuộc địa của Anh có mô hình quân chủ lập hiến sao chép từ mẫu quốc thì hoàn toàn khác. Người ta có thể bị tống giam 20 năm nếu vẽ tranh biếm họa Đức Vua Bu-mi-bon A-đu-la-dệt. Margaret Thatcher có lẽ đúng...

8. Phillip Stephens, ký giả của tờ Thời báo Tài chính, đưa tin rằng: Ngay buổi tối một trong những ngày tệ hại nhất của lịch sử nghị viện Anh đó, người ta đã được nghe Chủ tịch Martin nói tại một hội từ thiện là "I'm happy to be going".

Tuesday, 19 May 2009

A transatlantic love affair


Blog của bác Nguyên đầu bạc mới đăng loạt bài dịch các bức thư tình của Simone de Beauvoir gửi Nelson Algren hay quá làm mình nhảy ngay vào Amazon đặt mua cuốn này. Hì hì, 560 trang, giá 2.59 bảng cộng ship từ US 2.75 bảng nữa, nhưng chắc phải đợi 2 tuần mới nhận được sách.
----
Mọi chuyện bắt đầu vào tháng Giêng 1947, khi Simone de Beauvoir (1908 - 1986), nữ văn sĩ Pháp nổi tiếng, vợ nhà triết học lớn Jean-Paul Sartre, đến Mỹ theo lời mời của một số trường đại học. Trong thời gian lưu lại ở Chicago, theo lời khuyên của một cô bạn người New York, bà đã có cuộc gặp nhà văn Nelson Algren (1909 - 1981). Ông đã dẫn bà đi thăm khắp thành phố, chỉ cho bà thấy khu "dưới đáy" của Chicago, đến thăm khu phố Ba Lan, nơi ông lớn lên. Chiều ngày hôm sau bà rời đi Los Angeles, nhưng trái tim đã để lại Chicago. Họ yêu nhau nồng nàn, say đắm, nhưng không được sống bên nhau, bởi rời Chicago cuộc đời Algren mất hết ý nghĩa, cũng như Simone không thể từ bỏ Paris. Suốt mười bảy năm (1947 -1964), ngoài những lần gặp gỡ hiếm hoi, mối tình xuyên Đại Tây dương của họ chở nặng trên những cánh thư. Cuộc tình chấm dứt khi cuốn hồi ký "Sức mạnh đồ vật" của Simone de Beauvoir ra đời (1963). "Em hy vọng anh sẽ hài lòng với những trang viết về anh, em đã đặt vào đấy tất cả trái tim mình" - bà viết cho Algren. Nhưng phản ứng của nhà văn Mỹ thật bất ngờ, gay gắt. Ông đã xỉ vả thậm tệ cuốn sách trên báo chí và cho đến tận lúc chết cũng không có ý định nối lại mối quan hệ bị gián đoạn với nữ văn sĩ Pháp. Ông mất trong cảnh cô độc tại nhà riêng của mình ở Chicago, không có ai bên cạnh lo việc tang ma. Sau khi Algren mất, Simone sửng sốt khi được biết rằng mặc dù nguyền rủa bà công khai như vậy, nhưng ông vẫn cất giữ các bức thư của bà. Chúng đã được đem bán đấu giá và một trường đại học ở bang Ohio đã được quyền sở hữu. ít lâu sau họ xin phép bà cho công bố các bức thư đó. Vị tất khi được viết ra chúng đã nhằm để công bố, bởi chúng mang đầy những lời bộc bạch rất riêng tư. Nhưng đối với Simone de Beauvoir sự tự khám phá bản thân, thậm chí có gây xốc chăng nữa, vẫn là một trong những phương châm có tính nguyên tắc: nhà văn khi kể về mình cũng là giúp cho sự tự nhận thức của nhân loại, nhà văn không thể có điều gì bí mật che giấu người đương thời và hậu thế. Bà cho phép công bố với điều kiện là tự bà chuẩn bị các bức thư đem in và dịch chúng sang tiếng Pháp. Năm 1986 Simone de Beauvoir mất, chưa kịp hoàn thành công việc này. Con gái bà là Sylvi Le Bone de Beauvoir đã làm tiếp phần việc dở dang của mẹ và cho ra mắt cuốn sách "Lettres à Nelson Algren. Un amour transatlantique" ("Thư gửi Nelson Algren. Mối tình xuyên Đại Tây dương") tại Pháp năm 1997. Trong mười bảy năm, Simone de Beauvoir đã gửi cho Nelson Algren tất cả 304 bức thư. Dưới đây tôi trích dịch một số.

Mời đọc tiếp ở blog của bác Nguyên:

Friday, 15 May 2009

VAMA

Chưa đầy hai tuần sau khi các số liệu về tình hình bán hàng của tháng 4/2009 được công bố, Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) đã đề xuất xin hoãn thuế tiêu thụ đặc biệt đến hết năm với lý do doanh số của dòng xe SUV sụt giảm mạnh. Theo tin báo đưa, công văn này được gửi đi khắp nơi, từ UBTV Quốc hội, Thủ tướng, các Bộ liên quan (Tài chính – Công thương) và HĐND TP HN, HCM. VAMA còn kiến nghị là nếu đến hết năm, thị trường chưa phục hồi thì tiếp tục hoãn đến khi tình hình sáng sủa hơn. Funny vãi.

Có thể nói VAMA là nhóm lợi ích được tổ chức bài bản cả về chiến lược và chiến thuật nhất hiện nay. Thị trường ô tô Việt Nam là một trường hợp méo mó điển hình khi các nhà sản xuất được bảo hộ bằng tầng tầng lớp lớp thuế quan và nhiều chính sách ưu đãi. Đổi lại thì những lời hứa hẹn về một ngành công nghiệp ô tô nội địa với tỷ lệ nội địa hóa x% (x=30% tới năm 2001, 2002 gì đó và x=60% tới năm 2010) không bao giờ thành hiện thực. Tệ hơn nữa là giá xe bị một nhóm oligopoly bắt tay nhau thông đồng. Hãy nhớ lại khi Honda có kế hoạch đặt giá vừa phải khi tham gia thị trường với xe Civic đã bị oánh hội đồng như thế nào (nhưng bây giờ thì Honda lại là một trong những chú tham gia nhiệt tình nhất trong nhóm, xem thêm ở đây, blog của VAMA). Lợi nhuận siêu ngạch được chuyển về chính quốc thông qua trò chuyển giá, còn phần thiệt hại thì người tiêu dùng và xã hội chịu.

Ước mơ có một ngành công nghiệp ô tô là đáng quý và cần thiết (hãy xem chính quyền Obama hay Merkel đã dành bao nhiêu thời gian và tiền đóng thuế của nhân dân để cứu giúp ngành này thì rõ). Ai chả được quyền mơ. Bảo hộ là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là phải tạo động lực và không gian để những doanh nghiệp được bảo hộ cạnh tranh với nhau và cạnh tranh được ở tầm quốc tế, đến khi nó tạm đủ sức thì phải vứt nó ra gió để tự tồn tại. Chính vì không có sự cạnh tranh cần thiết nên tập đoàn lợi ích này chỉ chăm chăm lắp ráp từ phụ tùng nhập ngoại để bán được cái nào hay cái đó (cũng phải nhắc tới nguyên nhân là chính sách thuế đối với ô tô của Việt Nam quá ư là hoành tráng, nửa năm có thay đổi lớn, một quý có vài thay đổi nhỏ làm cho bố thằng nào biết để lên kế hoạch kinh doanh sản xuất). Thế nên vài năm trước đây ở một công ty ô tô (miễn nêu tên nhưng hãng mẹ của nó là một trong 3 đại gia hàng đầu thế giới) còn có hoạt cảnh các bạn công nhân lắp ráp linh kiện được đặt trong mấy thùng bìa carton nham nhở.

Xin nhắc một câu chuyện mà Ha-joon Chang kể trong cuốn Các Mạnh Thường Quân tệ (Bad Samaritans) thế này. Ngày xửa ngày xưa, có một nhà sản xuất ô tô của một nước đang phát triển xuất khẩu lô xe con đầu tiên vào nước Mỹ. Tới ngày đó, cái công ty nhỏ đó chỉ mới làm ra những sản phẩm chất lượng kém nhái của các nước phát triển. Chiếc xe chẳng có gì phức tạp (có thể gọi là “bốn bánh cộng thêm cái gạt tàn”). Nhưng đó là thời điểm đáng để cho nước kia và công ty nọ tự hào.

Tiếc thay, sản phẩm đã thất bại thảm hại. Hầu hết người tiêu dùng Mỹ đều chẳng thèm đoái hoài bỏ tiền ra rước cái thứ sản phẩm hạng hai đó. Lô xe bị rút khỏi thị trường Mỹ. Và thất bại đó tạo nên một làn sóng tranh luận ở nước kia. Rất nhiều người lập luận rằng công ty nọ nên chú tâm vào ngành kinh doanh chính của nó là sản xuất máy dệt giản đơn. Tới thời điểm bấy giờ, mặt hàng xuất khẩu chính của nước kia vẫn là vải lụa kia mà. Sau 25 năm cố gắng sản xuất ra một cái ô tô ngon lành mà không thành công thì hẳn là sẽ chẳng có vị gì nữa trong tương lai. Chính phủ đã cấp cho nhà sản xuất ô tô mọi cơ hội để thành công. Nó đã được đảm bảo mức lợi nhuận cao ở trong nước bằng mọi hàng rào thuế quan và kiểm soát chặt chẽ đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp ô tô. Chỉ mới cách đó chưa đầy 10 năm, chính phủ còn rót tiền để cứu công ty nọ khỏi phá sản. Vì thế, những người lên tiếng chỉ trích cho rằng, cần cho xe ngoại được nhập thoải mái và các nhà sản xuất ô tô nước ngoài, những người đã bị đá đít 20 năm trước, được mở lại nhà xưởng.

Những người khác không đồng ý như vậy. Họ lập luận rằng không có nước nào phát triển được mà không có các ngành công nghiệp “nghiêm túc” như sản xuất ô tô. Điều họ cần là thêm thời gian để sản xuất ra những chiếc xe có thể thuyết phục được mọi người.

Thời điểm đó là năm 1958, và tên nước đó là Nhật Bản. Công ty nọ tên là Toyota, và chiếc xe mang tên Toyopet. Toyota ban đầu vốn là một nhà sản xuất máy dệt (Toyoda Automatic Loom) và chuyển sang ngành công nghiệp ô tô từ năm 1933. Năm 1939, chính phủ Nhật đá đít General Motors và Ford. Năm 1949, Ngân hàng trung ương Nhật đã bảo lãnh Toyota khỏi phá sản. Ngày nay, ô tô Nhật là cái gì đó đồng nghĩa với cá hồi Scotland hay vang Pháp, nhưng chưa đầy nửa thế kỷ trước thôi, hầu hết mọi người, kể cả người Nhật, không tin vào sự tồn tại của nó.

Nửa thế kỷ sau cuộc tranh cãi về Toyopet, xe Lexus của Toyota trở thành một cái gì đó đồng nghĩa với toàn cầu hóa, nhờ cuốn sách gì mà của Friedman khi nhà báo này đến thăm nhà máy của Lexus. Trên đường về, Friedman tình cờ giở một trang báo nói về tình hình bất ổn ở Trung Đông và bất giác cảm thương cho những người giờ này vẫn còn choảng nhau xem ai là chủ của cái cây olive nào.

Theo Friedman, nước nào mà không thi hành gói chính sách gọi là Golden Straitjacket (giới academic gọi là Washington Concensus): tư nhân hóa các công ty nhà nước, giữ lạm phát thấp, giảm quy mô nhà nước, cân bằng ngân sách (nếu thặng dư được thì ngon), tự do hóa thương mại, nới lỏng quy định đầu tư nước ngoài và thị trường vốn, thả nổi đồng tiền, giảm tham nhũng và tư nhân hóa các quỹ phúc lợi thì truyền kiếp vẫn chỉ đi hái olive mà đừng hòng có mơ ngồi Lexus. Friedman gói gọn lại thế này: “Unfortunately, this Goldenn Straitjactket is pretty much “one size fits all”...It is not always pretty or gentle or comfortable. But it’s here and it’s the only model on the rack this historical season.”

Nếu chính phủ Nhật mà nghe theo lời các nhà kinh tế gia theo chủ trương tự do thương mại hồi đầu thập niên 1960, thì họ không thể có xe Lexus và Toyota may ra thì bây giờ chỉ là nhà cung cấp phụ tùng cho các hãng xe Âu châu nếu không bị đẩy ra khỏi cuộc chơi. Nếu áp dụng công thức của Friedman, nước Nhật giờ cũng chỉ là nước công nghiệp hạng ba, cùng hạng với Chile, Argentina và Nam Phi (như thập kỷ 60), một nước mà năm 1964, khi Tổng lý Đại thần Hayato Ikeda (tức Thủ tướng) viếng thăm Pháp đã được Charles De Gaulle gọi là “gã tiếp thị đài bán dẫn”. (!!!)

Bảo hộ là tốt, nhưng bảo hộ để có một ngành công nghiệp của quốc gia, chứ không phải là bảo hộ để các công ty nước ngoài thu được lợi nhuận siêu ngạch từ người tiêu dùng và xã hội rồi để lại những nhà xưởng hoang tàn và mấy chú công nhân lắp ráp ốc vít khi họ rút ra khỏi thị trường.

Thursday, 14 May 2009

Kinh tế học và kinh tế gia Liên Xô và Đông Âu

Nói luôn là bài này thuần túy nói về kinh tế học chứ không phải kinh tế chính trị học. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thứ mà Marx và những người kế tục gọi là kinh tế chính trị đã bị gạt ra khỏi cuộc chơi và thay thế bằng cái gọi là kinh tế học theo cách của Marshall (dù cách tiếp cận theo một nhánh hoàn toàn khác với tân cổ điển, dĩ nhiên).

Ngoài những kinh tế gia chuyển sang làm việc tại châu Âu và Mỹ (như Balassa, Domar, Fellner, Georgescu-Roegen, Kaldor, Kuznets, Lentief, Marschak, Scitovsky, Vanek) thì có lẽ các tên tuổi lớn nhất phía bên kia bức màn sắt là Michal Kalecki, Janos Kornai và Oskar Lange (riêng Leonid Kantorovich, dù là người Liên Xô duy nhất được giải Nobel kinh tế năm 1975, nhưng có lẽ nên xếp ông vào nhóm nhà toán học thì hợp lý hơn (công trình được giải của ông từ năm 1939, về vấn đề linear programming trong bài toán phân bổ nguồn lực tối ưu).

Kết quả khảo sát các nhà kinh tế của các nước Đông Âu và Liên Xô do GS. Hans-Jurrgen Wagener tiến hành năm 1997 cho thấy Kantorovich chỉ có ảnh hưởng lớn ở Liên Xô (ở CHDC Đức thì thậm chí một nhà toán kinh tế khác là Nemchinov, cũng chuyên về giải toán kế hoạch tập trung còn xếp ở thứ hạng cao hơn). Kornai có vẻ được thừa nhận là lý thuyết gia hàng đầu của khu vực nhưng ở CHDC Đức ông thậm chí còn không được xếp hạng (!!) Ở Nga hay CHDC Đức thì có vẻ như ít người biết Kalecki và Brus làm gì.


Nhìn vào bảng này thì thấy rõ một xu hướng là CHDC Đức có đánh giá khác biệt với các nước khác trong khu vực và chỉ có điểm chung đối với Oskar Lange. Đồng chí giáo sư Chicago này thì ngoài đóng góp đối với kinh tế học Marxist (phân tích lý thuyết giá trị lao động Marxian dưới góc độ lý thuyết giá cả tân cổ điển – bán chạy nhất là On the Economic Theory of Socialism xuất bản 1936. Yes, giáo sư Chicago đấy ạ!!!) còn là một nhà ngoại giao nổi tiếng (sống ở Mỹ nhiều năm trước khi được Stalin biệt đãi mời từ Mỹ qua Liên Xô đàm đạo và hứa xếp cho một ghế trong chính phủ Ba Lan khi kháng chiến thành công. Về sau ông là nhà trung gian trong các thảo luận giữa Roosevelt và Stalin về vấn đề Ba Lan cũng như là đại diện của nước này tại LHQ trước khi trở về cố quốc để vừa làm việc cho chính phủ Ba Lan vừa nghiên cứu học thuật tại University of Warsaw suốt quãng đời còn lại. Có một thời gian ngắn ông làm quyền Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Chủ tịch nước) trong năm 1964.

Quay trở lại với Oskar Lange – nhà kinh tế. Cuốn Ekonomia Polityczna (1959) là một tiếp cận phi giáo điều đối với chủ nghĩa Marx mà hẳn là các nhà kinh tế Đông Đức có thể phát triển thêm. Tuy nhiên, khi nó được dịch ra tiếng Đức 10 năm sau đó, nhà nước Đông Đức đã phê phán nó là theo chủ nghĩa xét lại. Behrens, Kuczynski, Varga và Kohlmey là những người Marxist chân thành.

Hơi lạ một điều là Michel Kalecki (1899-1970) lại không có được thứ hạng cao lắm. Kinh tế gia Marxist người Ba Lan này (vâng, vẫn là người Ba Lan – cho đến hết thập kỷ 60, về lý thuyết kinh tế phải theo tiêu chuẩn Ba Lan – we were all the Poles’ pupils) từng giảng dạy ở LSE, Cambridge, Oxford và Warsaw School of Economics và được coi là Keynes ở cánh tả. Nhiều tư tưởng của Kalecki rất giống và thậm chí còn có trước Keynes, nhưng ít được biết tới trong thế giới tiếng Anh vì chúng được viết bằng tiếng Ba Lan. Tác phẩm của Kalecki cũng ảnh hưởng lớn đến trường phái Keynes Cambridge, đặc biệt là tới Joan Robinson, Kaldor và Goodwin, cũng như kinh tế học hậu Keynes hiện đại. Trong Tuyển tập Michal Kalecki (7 cuốn) do Oxford University Press ấn hành, có đánh giá cho rằng ông là “một trong những nhà kinh tế xuất chúng nhất thế kỷ 20”.

Janos Kornai thì ở Việt Nam nhiều người đã biết (đặc biệt thông qua các bản dịch của bác Nguyễn Quang A). Cuốn hồi ký gần đây của ông (By Force of Thought) có nhiều chi tiết đời thường thú vị. Bài nói chuyện tại Nhật năm ngoái (cũng bác Quang A dịch mới đăng trên viet-studies) cũng thú vị ra trò (nhưng cơ mà bác Lữ Phương phê Kornai vài câu thôi mà ghê quá, ai lại thế!)

Tuesday, 12 May 2009

Antitrust policy

Christine Varney - Cựu luật sư, nhà vận động hành lang, cố vấn luật pháp và là tân Cục trưởng cục chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ vừa mới công bố chính sách mới của chính phủ Obama đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh của các công ty, tập đoàn lớn theo hướng siết chặt hơn (trở lại kiểu can thiệp mạnh tay thời Clinton). Giờ thì chính quyền sẽ không còn ủng hộ các đại gia trong các vụ kiện như dưới thời tổng thống Bush (chính sách mà Varney cho là "extreme hesitancy in the face of potential abuses by monopoly firms") nữa mà khuyến khích các công ty nhỏ đâm đơn khiếu kiện đối với các hành vi phản cạnh tranh đối với họ tới Bộ Tư pháp. Đối với một số vụ độc quyền lớn thì chính Bộ này sẽ tiến hành điều tra xử lý. 
Trong 8 năm cầm quyền, nước Mỹ đã phải nhường bước cho Brussels trở thành thủ đô của các cơ quan điều tiết cạnh tranh khi lần lượt gõ đầu các công ty Mỹ như Microsoft hay Intel lôi ra tòa.
Ngay lập tức GS. Mankiw, vốn là cố vấn kinh tế của Bush, bày tỏ quan ngại sẽ có thêm những vụ kiện với quy mô tương tự như Microsoft - vụ mà ông cho rằng là một sai lầm chính sách - trong tương lai. Trích dẫn lại một bài báo của chính mình cách đây hơn chục năm, GS Mankiw bình luận rằng, có lẽ trong thế kỷ 21, công ty nào có những luật sư tốt nhất (chứ không phải có các lập trình sư giỏi nhất) sẽ thống trị ngành  phần mềm.
Trong bản tin của mình, tờ Financial Times cho rằng sự thay đổi chính sách này sẽ tác động mạnh nhất đến ngành tài chính. Tờ báo này đưa tin chính bà Varney cũng đặt ra câu hỏi liệu việc thực thi chính sách chống độc quyền có thể ngăn chặn việc mở rộng quy mô các công ty trong ngành này có phải là một nguy cơ đối với toàn bộ hệ thống tài chính hay không.

Sunday, 10 May 2009

Big Government - A Poll


Bác Hoàng Hải Vân - nguyên tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên - đang quan tâm đến vai trò của nhà nước trong xã hội qua một loạt bài trên blog của bác ấy.
Trong entry mới đây, bác ấy có đưa một kết quả thăm dò dư luận của USA Today/Gallup tổ chức mới đây về vai trò của nhà nước và nhận xét là người Mỹ vẫn dị ứng với Big Government. Trang web của Gallup đưa title là: Big Gov't. Still Viewed as Greater Threat Than Big Business.Tuy nhiên, bài đăng trên USA Today, tờ báo đồng tổ chức thì title lại có hàm ý khác:

Cái poll này được thực hiện từ năm 1965 nên có một long term trend đáng chú ý: Từ năm 1978 - 1998: Thời kỳ Reaganomics/Thatcherism cực thịnh, quá trình deregulation và privatisation thắng thế, vai trò ngày càng thu hẹp của nhà nước và niềm tin gia tăng của dân chúng vào thị trường thể hiện rõ. Tuy nhiên, có lẽ sau vụ 11/9, xã hội lại cảm thấy cần thiết có một nhà nước đủ mạnh để xử lý những mối đe dọa đến từ bên ngoài khi mối "đe dọa Big Government" chỉ là 47% vào đâu đó trong thời gian 2002-2003. Giai đoạn tiếp theo, như những gì chúng ta đã chứng kiến về irrational exuberance, cả xã hội Mỹ tràn đầy hứng khởi khi mua nhà và tiêu tiền tín dụng thoải mái, đâu cần đến nhà nước, thì cái threat này túc tắc tăng lên trên 60%. Đến thời điểm này, con số đó đã rơi xuống mức 55%, và con số đó hoàn toàn có thể được diễn dịch như cách của USA Today. Cũng chính vì cái perception về Big Government này mà chính phủ Mỹ rất trù trừ trong phương cách giải cứu các công ty lớn, cả ở Wall Street và Main Street, không nationalise hoặc đổi debt lấy capital như ở Anh hoặc một số nước châu Âu khác mà chủ yếu vẫn thiên về bơm cash hoặc mua lại toxic assets (như TARP hay PIPP).

Friday, 8 May 2009

Naomi Klein vs. Tom Friedman

Vẫn bài đăng trên báo SVVN số hôm rày :)

1. Sự ủng hộ toàn cầu hóa đã được thể hiện một cách mạnh mẽ trong các tác phẩm của Friedman (nhất là "Thế giới phẳng"). Đối ứng của trào lưu này, như thể hiện trong "No Logo", chủ yếu thể hiện ở các khía cạnh nào?

No Logo thể hiện quan điểm phản đối toàn cầu hóa, mà thực chất là sự thao túng của các tập đoàn, đại công ty đa quốc gia đối với xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới tư bản, một nhóm các đại công ty có trong tay quyền lực mềm thậm chí nhiều lúc còn lớn hơn nhà nước ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Tại các nước đang phát triển, họ sử dụng các chiêu thức quảng cáo, tiếp thị bằng mọi biện pháp và tại mọi nơi (kể cả trong trường học, nhà thờ, cơ quan công quyền). Lớp trẻ phương Tây lớn lên trong sự lệ thuộc vào các nhãn hiệu nổi tiếng bất kể rằng những thứ đó có thực sự tốt và hữu ích cho xã hội không. Những khoản lợi nhuận kếch sù, những hợp đồng quảng cáo đắt giá của các đại công ty đó lại nhờ sự khai thác nguồn lao động giá rẻ tại các nước đang phát triển. Theo lập luận của Klein, và những người cùng chủ trương, toàn cầu hóa là một game dạng win-loss-loss, theo đó bên được lợi duy nhất là các tập đoàn đa quốc gia, và phần thiệt hại thuộc về chính phủ các nước và toàn xã hội.

2. Ảnh hưởng của "No Logo" và các tác phẩm khác của Naomi Klein (nhất là "Shock Doctrine") lên phong trào chống toàn cầu hóa?

No Logo (2000) là tác phẩm đầu tiên trong bộ ba cuốn sách về cùng chủ đề chống toàn cầu hóa của Naomi Klein (cùng với Fences and Windows (2002) và mới nhất là The Shock Doctrine (2007)) ra đời ngay sau thời điểm rất đáng nhớ đối với cả hai phía ủng hộ và chống toàn cầu. Đó là Cuộc chiến Seattle 1999 – trong đó 40.000 người của phong trào chống toàn cầu hóa đã biểu tình tại Washington để phản đối hội nghị bộ trưởng WTO. Rất nhanh chóng, tác phẩm của nữ nhà báo Canada trở thành cẩm nang của phe chống toàn cầu hóa. Họ tìm thấy ở đó những dẫn chứng sắc sảo, quyết liệt, làm lay động lòng người khi lên án các đại công ty. Và Klein trở thành một trong những “người phát ngôn” của Diễn đàn Xã hội thế giới – tổ chức của những người chống toàn cầu hóa, được xếp vị trí thứ 11 (người phụ nữ được xếp cao nhất) trong cuộc bình chọn 100 học giả hàng đầu thế giới do hai tạp chí Prospect và Foreign Policy tổ chức. Đầu năm 2009, Klein được giới trẻ Mỹ, qua tạp chí Rolling Stone, bình chọn trong số 100 người sẽ làm thay đổi nước Mỹ trong thế kỷ 21.

3. Với tư cách là nhà nghiên cứu kinh tế, anh có thể cho biết quan điểm riêng về "No Logo"?

Tương tự Thomas Friedman ở The New York Times, trước hết Naomi Klein là một nhà báo nên cách tiếp cận của No Logo và The World is Flat tương đối giống nhau: văn phong lôi cuốn, hấp dẫn, giàu cảm xúc, sử dụng nhiều chiêm nghiệm bản thân và thông qua hình thức phỏng vấn, điều tra báo chí. Cách tiếp cận này thường dễ được đông đảo công chúng tiếp nhận. Tuy nhiên, đây cũng là một điểm yếu của cuốn sách vì thiếu những lập luận kinh tế giải thích về những điều tốt – xấu của quá trình toàn cầu hóa. Nhìn từ góc độ làm chính sách của một quốc gia, toàn cầu hóa không phải là sự bắt buộc, đó là sự lựa chọn. Klein đã không giải thích được vì sao các nước đang phát triển vẫn chấp nhận, và thậm chí còn phải cạnh tranh lẫn nhau để các công ty sử dụng lao động với giá rẻ mạt trong những ngành tạo ra giá trị gia tăng thấp. Cũng dễ hiểu khi hướng vào các công ty đa quốc gia làm đối tượng để chỉ trích, vì nó trực diện, hiển hiện. Tuy nhiên, bản chất của vấn đề lại ở chỗ khác: những khuyết tật mang tính hệ thống của chủ nghĩa tư bản. Và điều đó phức tạp và cần sửa chữa theo một cách khác hơn là phá hoại tài sản của các công ty đa quốc gia như những gì diễn ra ở Seattle (1999) hay Genoa (2001).

Cuộc đấu tranh của Klein và những người cùng chí hướng không phải là vô ích trong một thế giới tư bản nhiều lúc được điều khiển bằng sức mạnh của đồng tiền. Trong một báo cáo của Liên Hiệp Quốc mang tên “Toàn cầu hóa với khuôn mặt nhân bản” có đoạn “các nguyên tắc hoạt động của các công ty đa quốc gia về tiêu chuẩn lao động, thương mại công bằng và bảo vệ môi trường… cần phải chống lại các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đối với các nước nghèo nhất” và rằng “Một khía cạnh thiết yếu trong quản trị toàn cầu là trách nhiệm đối với con người – về sự bình đẳng, công lý và sự mở rộng quyền lựa chọn của tất cả mọi người.