Friday, 22 May 2009
Nghị viện Anh
Tuesday, 19 May 2009
A transatlantic love affair
Friday, 15 May 2009
VAMA
Chưa đầy hai tuần sau khi các số liệu về tình hình bán hàng của tháng 4/2009 được công bố, Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) đã đề xuất xin hoãn thuế tiêu thụ đặc biệt đến hết năm với lý do doanh số của dòng xe SUV sụt giảm mạnh. Theo tin báo đưa, công văn này được gửi đi khắp nơi, từ UBTV Quốc hội, Thủ tướng, các Bộ liên quan (Tài chính – Công thương) và HĐND TP HN, HCM. VAMA còn kiến nghị là nếu đến hết năm, thị trường chưa phục hồi thì tiếp tục hoãn đến khi tình hình sáng sủa hơn. Funny vãi.
Có thể nói VAMA là nhóm lợi ích được tổ chức bài bản cả về chiến lược và chiến thuật nhất hiện nay. Thị trường ô tô Việt Nam là một trường hợp méo mó điển hình khi các nhà sản xuất được bảo hộ bằng tầng tầng lớp lớp thuế quan và nhiều chính sách ưu đãi. Đổi lại thì những lời hứa hẹn về một ngành công nghiệp ô tô nội địa với tỷ lệ nội địa hóa x% (x=30% tới năm 2001, 2002 gì đó và x=60% tới năm 2010) không bao giờ thành hiện thực. Tệ hơn nữa là giá xe bị một nhóm oligopoly bắt tay nhau thông đồng. Hãy nhớ lại khi Honda có kế hoạch đặt giá vừa phải khi tham gia thị trường với xe Civic đã bị oánh hội đồng như thế nào (nhưng bây giờ thì Honda lại là một trong những chú tham gia nhiệt tình nhất trong nhóm, xem thêm ở đây, blog của VAMA). Lợi nhuận siêu ngạch được chuyển về chính quốc thông qua trò chuyển giá, còn phần thiệt hại thì người tiêu dùng và xã hội chịu.
Ước mơ có một ngành công nghiệp ô tô là đáng quý và cần thiết (hãy xem chính quyền Obama hay Merkel đã dành bao nhiêu thời gian và tiền đóng thuế của nhân dân để cứu giúp ngành này thì rõ). Ai chả được quyền mơ. Bảo hộ là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là phải tạo động lực và không gian để những doanh nghiệp được bảo hộ cạnh tranh với nhau và cạnh tranh được ở tầm quốc tế, đến khi nó tạm đủ sức thì phải vứt nó ra gió để tự tồn tại. Chính vì không có sự cạnh tranh cần thiết nên tập đoàn lợi ích này chỉ chăm chăm lắp ráp từ phụ tùng nhập ngoại để bán được cái nào hay cái đó (cũng phải nhắc tới nguyên nhân là chính sách thuế đối với ô tô của Việt Nam quá ư là hoành tráng, nửa năm có thay đổi lớn, một quý có vài thay đổi nhỏ làm cho bố thằng nào biết để lên kế hoạch kinh doanh sản xuất). Thế nên vài năm trước đây ở một công ty ô tô (miễn nêu tên nhưng hãng mẹ của nó là một trong 3 đại gia hàng đầu thế giới) còn có hoạt cảnh các bạn công nhân lắp ráp linh kiện được đặt trong mấy thùng bìa carton nham nhở.
Xin nhắc một câu chuyện mà Ha-joon Chang kể trong cuốn Các Mạnh Thường Quân tệ (Bad Samaritans) thế này. Ngày xửa ngày xưa, có một nhà sản xuất ô tô của một nước đang phát triển xuất khẩu lô xe con đầu tiên vào nước Mỹ. Tới ngày đó, cái công ty nhỏ đó chỉ mới làm ra những sản phẩm chất lượng kém nhái của các nước phát triển. Chiếc xe chẳng có gì phức tạp (có thể gọi là “bốn bánh cộng thêm cái gạt tàn”). Nhưng đó là thời điểm đáng để cho nước kia và công ty nọ tự hào.
Tiếc thay, sản phẩm đã thất bại thảm hại. Hầu hết người tiêu dùng Mỹ đều chẳng thèm đoái hoài bỏ tiền ra rước cái thứ sản phẩm hạng hai đó. Lô xe bị rút khỏi thị trường Mỹ. Và thất bại đó tạo nên một làn sóng tranh luận ở nước kia. Rất nhiều người lập luận rằng công ty nọ nên chú tâm vào ngành kinh doanh chính của nó là sản xuất máy dệt giản đơn. Tới thời điểm bấy giờ, mặt hàng xuất khẩu chính của nước kia vẫn là vải lụa kia mà. Sau 25 năm cố gắng sản xuất ra một cái ô tô ngon lành mà không thành công thì hẳn là sẽ chẳng có vị gì nữa trong tương lai. Chính phủ đã cấp cho nhà sản xuất ô tô mọi cơ hội để thành công. Nó đã được đảm bảo mức lợi nhuận cao ở trong nước bằng mọi hàng rào thuế quan và kiểm soát chặt chẽ đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp ô tô. Chỉ mới cách đó chưa đầy 10 năm, chính phủ còn rót tiền để cứu công ty nọ khỏi phá sản. Vì thế, những người lên tiếng chỉ trích cho rằng, cần cho xe ngoại được nhập thoải mái và các nhà sản xuất ô tô nước ngoài, những người đã bị đá đít 20 năm trước, được mở lại nhà xưởng.
Những người khác không đồng ý như vậy. Họ lập luận rằng không có nước nào phát triển được mà không có các ngành công nghiệp “nghiêm túc” như sản xuất ô tô. Điều họ cần là thêm thời gian để sản xuất ra những chiếc xe có thể thuyết phục được mọi người.
Thời điểm đó là năm 1958, và tên nước đó là Nhật Bản. Công ty nọ tên là Toyota, và chiếc xe mang tên Toyopet. Toyota ban đầu vốn là một nhà sản xuất máy dệt (Toyoda Automatic Loom) và chuyển sang ngành công nghiệp ô tô từ năm 1933. Năm 1939, chính phủ Nhật đá đít General Motors và Ford. Năm 1949, Ngân hàng trung ương Nhật đã bảo lãnh Toyota khỏi phá sản. Ngày nay, ô tô Nhật là cái gì đó đồng nghĩa với cá hồi Scotland hay vang Pháp, nhưng chưa đầy nửa thế kỷ trước thôi, hầu hết mọi người, kể cả người Nhật, không tin vào sự tồn tại của nó.
Nửa thế kỷ sau cuộc tranh cãi về Toyopet, xe Lexus của Toyota trở thành một cái gì đó đồng nghĩa với toàn cầu hóa, nhờ cuốn sách gì mà của Friedman khi nhà báo này đến thăm nhà máy của Lexus. Trên đường về, Friedman tình cờ giở một trang báo nói về tình hình bất ổn ở Trung Đông và bất giác cảm thương cho những người giờ này vẫn còn choảng nhau xem ai là chủ của cái cây olive nào.
Theo Friedman, nước nào mà không thi hành gói chính sách gọi là Golden Straitjacket (giới academic gọi là Washington Concensus): tư nhân hóa các công ty nhà nước, giữ lạm phát thấp, giảm quy mô nhà nước, cân bằng ngân sách (nếu thặng dư được thì ngon), tự do hóa thương mại, nới lỏng quy định đầu tư nước ngoài và thị trường vốn, thả nổi đồng tiền, giảm tham nhũng và tư nhân hóa các quỹ phúc lợi thì truyền kiếp vẫn chỉ đi hái olive mà đừng hòng có mơ ngồi Lexus. Friedman gói gọn lại thế này: “Unfortunately, this Goldenn Straitjactket is pretty much “one size fits all”...It is not always pretty or gentle or comfortable. But it’s here and it’s the only model on the rack this historical season.”
Nếu chính phủ Nhật mà nghe theo lời các nhà kinh tế gia theo chủ trương tự do thương mại hồi đầu thập niên 1960, thì họ không thể có xe Lexus và Toyota may ra thì bây giờ chỉ là nhà cung cấp phụ tùng cho các hãng xe Âu châu nếu không bị đẩy ra khỏi cuộc chơi. Nếu áp dụng công thức của Friedman, nước Nhật giờ cũng chỉ là nước công nghiệp hạng ba, cùng hạng với Chile, Argentina và Nam Phi (như thập kỷ 60), một nước mà năm 1964, khi Tổng lý Đại thần Hayato Ikeda (tức Thủ tướng) viếng thăm Pháp đã được Charles De Gaulle gọi là “gã tiếp thị đài bán dẫn”. (!!!)
Bảo hộ là tốt, nhưng bảo hộ để có một ngành công nghiệp của quốc gia, chứ không phải là bảo hộ để các công ty nước ngoài thu được lợi nhuận siêu ngạch từ người tiêu dùng và xã hội rồi để lại những nhà xưởng hoang tàn và mấy chú công nhân lắp ráp ốc vít khi họ rút ra khỏi thị trường.
Thursday, 14 May 2009
Kinh tế học và kinh tế gia Liên Xô và Đông Âu
Nói luôn là bài này thuần túy nói về kinh tế học chứ không phải kinh tế chính trị học. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thứ mà Marx và những người kế tục gọi là kinh tế chính trị đã bị gạt ra khỏi cuộc chơi và thay thế bằng cái gọi là kinh tế học theo cách của Marshall (dù cách tiếp cận theo một nhánh hoàn toàn khác với tân cổ điển, dĩ nhiên).
Ngoài những kinh tế gia chuyển sang làm việc tại châu Âu và Mỹ (như Balassa, Domar, Fellner, Georgescu-Roegen, Kaldor, Kuznets, Lentief, Marschak, Scitovsky, Vanek) thì có lẽ các tên tuổi lớn nhất phía bên kia bức màn sắt là Michal Kalecki, Janos Kornai và Oskar Lange (riêng Leonid Kantorovich, dù là người Liên Xô duy nhất được giải Nobel kinh tế năm 1975, nhưng có lẽ nên xếp ông vào nhóm nhà toán học thì hợp lý hơn (công trình được giải của ông từ năm 1939, về vấn đề linear programming trong bài toán phân bổ nguồn lực tối ưu).
Kết quả khảo sát các nhà kinh tế của các nước Đông Âu và Liên Xô do GS. Hans-Jurrgen Wagener tiến hành năm 1997 cho thấy Kantorovich chỉ có ảnh hưởng lớn ở Liên Xô (ở CHDC Đức thì thậm chí một nhà toán kinh tế khác là Nemchinov, cũng chuyên về giải toán kế hoạch tập trung còn xếp ở thứ hạng cao hơn). Kornai có vẻ được thừa nhận là lý thuyết gia hàng đầu của khu vực nhưng ở CHDC Đức ông thậm chí còn không được xếp hạng (!!) Ở Nga hay CHDC Đức thì có vẻ như ít người biết Kalecki và Brus làm gì.

Nhìn vào bảng này thì thấy rõ một xu hướng là CHDC Đức có đánh giá khác biệt với các nước khác trong khu vực và chỉ có điểm chung đối với Oskar Lange. Đồng chí giáo sư Chicago này thì ngoài đóng góp đối với kinh tế học Marxist (phân tích lý thuyết giá trị lao động Marxian dưới góc độ lý thuyết giá cả tân cổ điển – bán chạy nhất là On the Economic Theory of Socialism xuất bản 1936. Yes, giáo sư Chicago đấy ạ!!!) còn là một nhà ngoại giao nổi tiếng (sống ở Mỹ nhiều năm trước khi được Stalin biệt đãi mời từ Mỹ qua Liên Xô đàm đạo và hứa xếp cho một ghế trong chính phủ Ba Lan khi kháng chiến thành công. Về sau ông là nhà trung gian trong các thảo luận giữa Roosevelt và Stalin về vấn đề Ba Lan cũng như là đại diện của nước này tại LHQ trước khi trở về cố quốc để vừa làm việc cho chính phủ Ba Lan vừa nghiên cứu học thuật tại University of Warsaw suốt quãng đời còn lại. Có một thời gian ngắn ông làm quyền Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Chủ tịch nước) trong năm 1964.
Quay trở lại với Oskar Lange – nhà kinh tế. Cuốn Ekonomia Polityczna (1959) là một tiếp cận phi giáo điều đối với chủ nghĩa Marx mà hẳn là các nhà kinh tế Đông Đức có thể phát triển thêm. Tuy nhiên, khi nó được dịch ra tiếng Đức 10 năm sau đó, nhà nước Đông Đức đã phê phán nó là theo chủ nghĩa xét lại. Behrens, Kuczynski, Varga và Kohlmey là những người Marxist chân thành.
Hơi lạ một điều là Michel Kalecki (1899-1970) lại không có được thứ hạng cao lắm. Kinh tế gia Marxist người Ba Lan này (vâng, vẫn là người Ba Lan – cho đến hết thập kỷ 60, về lý thuyết kinh tế phải theo tiêu chuẩn Ba Lan – we were all the Poles’ pupils) từng giảng dạy ở LSE, Cambridge, Oxford và Warsaw School of Economics và được coi là Keynes ở cánh tả. Nhiều tư tưởng của Kalecki rất giống và thậm chí còn có trước Keynes, nhưng ít được biết tới trong thế giới tiếng Anh vì chúng được viết bằng tiếng Ba Lan. Tác phẩm của Kalecki cũng ảnh hưởng lớn đến trường phái Keynes Cambridge, đặc biệt là tới Joan Robinson, Kaldor và Goodwin, cũng như kinh tế học hậu Keynes hiện đại. Trong Tuyển tập Michal Kalecki (7 cuốn) do Oxford University Press ấn hành, có đánh giá cho rằng ông là “một trong những nhà kinh tế xuất chúng nhất thế kỷ 20”.
Janos Kornai thì ở Việt Nam nhiều người đã biết (đặc biệt thông qua các bản dịch của bác Nguyễn Quang A). Cuốn hồi ký gần đây của ông (By Force of Thought) có nhiều chi tiết đời thường thú vị. Bài nói chuyện tại Nhật năm ngoái (cũng bác Quang A dịch mới đăng trên viet-studies) cũng thú vị ra trò (nhưng cơ mà bác Lữ Phương phê Kornai vài câu thôi mà ghê quá, ai lại thế!)
Tuesday, 12 May 2009
Antitrust policy
Sunday, 10 May 2009
Big Government - A Poll
Friday, 8 May 2009
Naomi Klein vs. Tom Friedman
Vẫn bài đăng trên báo SVVN số hôm rày :)
1. Sự ủng hộ toàn cầu hóa đã được thể hiện một cách mạnh mẽ trong các tác phẩm của Friedman (nhất là "Thế giới phẳng"). Đối ứng của trào lưu này, như thể hiện trong "No Logo", chủ yếu thể hiện ở các khía cạnh nào?
No Logo thể hiện quan điểm phản đối toàn cầu hóa, mà thực chất là sự thao túng của các tập đoàn, đại công ty đa quốc gia đối với xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới tư bản, một nhóm các đại công ty có trong tay quyền lực mềm thậm chí nhiều lúc còn lớn hơn nhà nước ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Tại các nước đang phát triển, họ sử dụng các chiêu thức quảng cáo, tiếp thị bằng mọi biện pháp và tại mọi nơi (kể cả trong trường học, nhà thờ, cơ quan công quyền). Lớp trẻ phương Tây lớn lên trong sự lệ thuộc vào các nhãn hiệu nổi tiếng bất kể rằng những thứ đó có thực sự tốt và hữu ích cho xã hội không. Những khoản lợi nhuận kếch sù, những hợp đồng quảng cáo đắt giá của các đại công ty đó lại nhờ sự khai thác nguồn lao động giá rẻ tại các nước đang phát triển. Theo lập luận của Klein, và những người cùng chủ trương, toàn cầu hóa là một game dạng win-loss-loss, theo đó bên được lợi duy nhất là các tập đoàn đa quốc gia, và phần thiệt hại thuộc về chính phủ các nước và toàn xã hội.
2. Ảnh hưởng của "No Logo" và các tác phẩm khác của Naomi Klein (nhất là "Shock Doctrine") lên phong trào chống toàn cầu hóa?
No Logo (2000) là tác phẩm đầu tiên trong bộ ba cuốn sách về cùng chủ đề chống toàn cầu hóa của Naomi Klein (cùng với Fences and Windows (2002) và mới nhất là The Shock Doctrine (2007)) ra đời ngay sau thời điểm rất đáng nhớ đối với cả hai phía ủng hộ và chống toàn cầu. Đó là Cuộc chiến Seattle 1999 – trong đó 40.000 người của phong trào chống toàn cầu hóa đã biểu tình tại Washington để phản đối hội nghị bộ trưởng WTO. Rất nhanh chóng, tác phẩm của nữ nhà báo Canada trở thành cẩm nang của phe chống toàn cầu hóa. Họ tìm thấy ở đó những dẫn chứng sắc sảo, quyết liệt, làm lay động lòng người khi lên án các đại công ty. Và Klein trở thành một trong những “người phát ngôn” của Diễn đàn Xã hội thế giới – tổ chức của những người chống toàn cầu hóa, được xếp vị trí thứ 11 (người phụ nữ được xếp cao nhất) trong cuộc bình chọn 100 học giả hàng đầu thế giới do hai tạp chí Prospect và Foreign Policy tổ chức. Đầu năm 2009, Klein được giới trẻ Mỹ, qua tạp chí Rolling Stone, bình chọn trong số 100 người sẽ làm thay đổi nước Mỹ trong thế kỷ 21.
3. Với tư cách là nhà nghiên cứu kinh tế, anh có thể cho biết quan điểm riêng về "No Logo"?
Tương tự Thomas Friedman ở The New York Times, trước hết Naomi Klein là một nhà báo nên cách tiếp cận của No Logo và The World is Flat tương đối giống nhau: văn phong lôi cuốn, hấp dẫn, giàu cảm xúc, sử dụng nhiều chiêm nghiệm bản thân và thông qua hình thức phỏng vấn, điều tra báo chí. Cách tiếp cận này thường dễ được đông đảo công chúng tiếp nhận. Tuy nhiên, đây cũng là một điểm yếu của cuốn sách vì thiếu những lập luận kinh tế giải thích về những điều tốt – xấu của quá trình toàn cầu hóa. Nhìn từ góc độ làm chính sách của một quốc gia, toàn cầu hóa không phải là sự bắt buộc, đó là sự lựa chọn. Klein đã không giải thích được vì sao các nước đang phát triển vẫn chấp nhận, và thậm chí còn phải cạnh tranh lẫn nhau để các công ty sử dụng lao động với giá rẻ mạt trong những ngành tạo ra giá trị gia tăng thấp. Cũng dễ hiểu khi hướng vào các công ty đa quốc gia làm đối tượng để chỉ trích, vì nó trực diện, hiển hiện. Tuy nhiên, bản chất của vấn đề lại ở chỗ khác: những khuyết tật mang tính hệ thống của chủ nghĩa tư bản. Và điều đó phức tạp và cần sửa chữa theo một cách khác hơn là phá hoại tài sản của các công ty đa quốc gia như những gì diễn ra ở Seattle (1999) hay Genoa (2001).
Cuộc đấu tranh của Klein và những người cùng chí hướng không phải là vô ích trong một thế giới tư bản nhiều lúc được điều khiển bằng sức mạnh của đồng tiền. Trong một báo cáo của Liên Hiệp Quốc mang tên “Toàn cầu hóa với khuôn mặt nhân bản” có đoạn “các nguyên tắc hoạt động của các công ty đa quốc gia về tiêu chuẩn lao động, thương mại công bằng và bảo vệ môi trường… cần phải chống lại các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đối với các nước nghèo nhất” và rằng “Một khía cạnh thiết yếu trong quản trị toàn cầu là trách nhiệm đối với con người – về sự bình đẳng, công lý và sự mở rộng quyền lựa chọn của tất cả mọi người.”