Thursday, 14 May 2009

Kinh tế học và kinh tế gia Liên Xô và Đông Âu

Nói luôn là bài này thuần túy nói về kinh tế học chứ không phải kinh tế chính trị học. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thứ mà Marx và những người kế tục gọi là kinh tế chính trị đã bị gạt ra khỏi cuộc chơi và thay thế bằng cái gọi là kinh tế học theo cách của Marshall (dù cách tiếp cận theo một nhánh hoàn toàn khác với tân cổ điển, dĩ nhiên).

Ngoài những kinh tế gia chuyển sang làm việc tại châu Âu và Mỹ (như Balassa, Domar, Fellner, Georgescu-Roegen, Kaldor, Kuznets, Lentief, Marschak, Scitovsky, Vanek) thì có lẽ các tên tuổi lớn nhất phía bên kia bức màn sắt là Michal Kalecki, Janos Kornai và Oskar Lange (riêng Leonid Kantorovich, dù là người Liên Xô duy nhất được giải Nobel kinh tế năm 1975, nhưng có lẽ nên xếp ông vào nhóm nhà toán học thì hợp lý hơn (công trình được giải của ông từ năm 1939, về vấn đề linear programming trong bài toán phân bổ nguồn lực tối ưu).

Kết quả khảo sát các nhà kinh tế của các nước Đông Âu và Liên Xô do GS. Hans-Jurrgen Wagener tiến hành năm 1997 cho thấy Kantorovich chỉ có ảnh hưởng lớn ở Liên Xô (ở CHDC Đức thì thậm chí một nhà toán kinh tế khác là Nemchinov, cũng chuyên về giải toán kế hoạch tập trung còn xếp ở thứ hạng cao hơn). Kornai có vẻ được thừa nhận là lý thuyết gia hàng đầu của khu vực nhưng ở CHDC Đức ông thậm chí còn không được xếp hạng (!!) Ở Nga hay CHDC Đức thì có vẻ như ít người biết Kalecki và Brus làm gì.


Nhìn vào bảng này thì thấy rõ một xu hướng là CHDC Đức có đánh giá khác biệt với các nước khác trong khu vực và chỉ có điểm chung đối với Oskar Lange. Đồng chí giáo sư Chicago này thì ngoài đóng góp đối với kinh tế học Marxist (phân tích lý thuyết giá trị lao động Marxian dưới góc độ lý thuyết giá cả tân cổ điển – bán chạy nhất là On the Economic Theory of Socialism xuất bản 1936. Yes, giáo sư Chicago đấy ạ!!!) còn là một nhà ngoại giao nổi tiếng (sống ở Mỹ nhiều năm trước khi được Stalin biệt đãi mời từ Mỹ qua Liên Xô đàm đạo và hứa xếp cho một ghế trong chính phủ Ba Lan khi kháng chiến thành công. Về sau ông là nhà trung gian trong các thảo luận giữa Roosevelt và Stalin về vấn đề Ba Lan cũng như là đại diện của nước này tại LHQ trước khi trở về cố quốc để vừa làm việc cho chính phủ Ba Lan vừa nghiên cứu học thuật tại University of Warsaw suốt quãng đời còn lại. Có một thời gian ngắn ông làm quyền Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Chủ tịch nước) trong năm 1964.

Quay trở lại với Oskar Lange – nhà kinh tế. Cuốn Ekonomia Polityczna (1959) là một tiếp cận phi giáo điều đối với chủ nghĩa Marx mà hẳn là các nhà kinh tế Đông Đức có thể phát triển thêm. Tuy nhiên, khi nó được dịch ra tiếng Đức 10 năm sau đó, nhà nước Đông Đức đã phê phán nó là theo chủ nghĩa xét lại. Behrens, Kuczynski, Varga và Kohlmey là những người Marxist chân thành.

Hơi lạ một điều là Michel Kalecki (1899-1970) lại không có được thứ hạng cao lắm. Kinh tế gia Marxist người Ba Lan này (vâng, vẫn là người Ba Lan – cho đến hết thập kỷ 60, về lý thuyết kinh tế phải theo tiêu chuẩn Ba Lan – we were all the Poles’ pupils) từng giảng dạy ở LSE, Cambridge, Oxford và Warsaw School of Economics và được coi là Keynes ở cánh tả. Nhiều tư tưởng của Kalecki rất giống và thậm chí còn có trước Keynes, nhưng ít được biết tới trong thế giới tiếng Anh vì chúng được viết bằng tiếng Ba Lan. Tác phẩm của Kalecki cũng ảnh hưởng lớn đến trường phái Keynes Cambridge, đặc biệt là tới Joan Robinson, Kaldor và Goodwin, cũng như kinh tế học hậu Keynes hiện đại. Trong Tuyển tập Michal Kalecki (7 cuốn) do Oxford University Press ấn hành, có đánh giá cho rằng ông là “một trong những nhà kinh tế xuất chúng nhất thế kỷ 20”.

Janos Kornai thì ở Việt Nam nhiều người đã biết (đặc biệt thông qua các bản dịch của bác Nguyễn Quang A). Cuốn hồi ký gần đây của ông (By Force of Thought) có nhiều chi tiết đời thường thú vị. Bài nói chuyện tại Nhật năm ngoái (cũng bác Quang A dịch mới đăng trên viet-studies) cũng thú vị ra trò (nhưng cơ mà bác Lữ Phương phê Kornai vài câu thôi mà ghê quá, ai lại thế!)

Tuesday, 12 May 2009

Antitrust policy

Christine Varney - Cựu luật sư, nhà vận động hành lang, cố vấn luật pháp và là tân Cục trưởng cục chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ vừa mới công bố chính sách mới của chính phủ Obama đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh của các công ty, tập đoàn lớn theo hướng siết chặt hơn (trở lại kiểu can thiệp mạnh tay thời Clinton). Giờ thì chính quyền sẽ không còn ủng hộ các đại gia trong các vụ kiện như dưới thời tổng thống Bush (chính sách mà Varney cho là "extreme hesitancy in the face of potential abuses by monopoly firms") nữa mà khuyến khích các công ty nhỏ đâm đơn khiếu kiện đối với các hành vi phản cạnh tranh đối với họ tới Bộ Tư pháp. Đối với một số vụ độc quyền lớn thì chính Bộ này sẽ tiến hành điều tra xử lý. 
Trong 8 năm cầm quyền, nước Mỹ đã phải nhường bước cho Brussels trở thành thủ đô của các cơ quan điều tiết cạnh tranh khi lần lượt gõ đầu các công ty Mỹ như Microsoft hay Intel lôi ra tòa.
Ngay lập tức GS. Mankiw, vốn là cố vấn kinh tế của Bush, bày tỏ quan ngại sẽ có thêm những vụ kiện với quy mô tương tự như Microsoft - vụ mà ông cho rằng là một sai lầm chính sách - trong tương lai. Trích dẫn lại một bài báo của chính mình cách đây hơn chục năm, GS Mankiw bình luận rằng, có lẽ trong thế kỷ 21, công ty nào có những luật sư tốt nhất (chứ không phải có các lập trình sư giỏi nhất) sẽ thống trị ngành  phần mềm.
Trong bản tin của mình, tờ Financial Times cho rằng sự thay đổi chính sách này sẽ tác động mạnh nhất đến ngành tài chính. Tờ báo này đưa tin chính bà Varney cũng đặt ra câu hỏi liệu việc thực thi chính sách chống độc quyền có thể ngăn chặn việc mở rộng quy mô các công ty trong ngành này có phải là một nguy cơ đối với toàn bộ hệ thống tài chính hay không.

Sunday, 10 May 2009

Big Government - A Poll


Bác Hoàng Hải Vân - nguyên tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên - đang quan tâm đến vai trò của nhà nước trong xã hội qua một loạt bài trên blog của bác ấy.
Trong entry mới đây, bác ấy có đưa một kết quả thăm dò dư luận của USA Today/Gallup tổ chức mới đây về vai trò của nhà nước và nhận xét là người Mỹ vẫn dị ứng với Big Government. Trang web của Gallup đưa title là: Big Gov't. Still Viewed as Greater Threat Than Big Business.Tuy nhiên, bài đăng trên USA Today, tờ báo đồng tổ chức thì title lại có hàm ý khác:

Cái poll này được thực hiện từ năm 1965 nên có một long term trend đáng chú ý: Từ năm 1978 - 1998: Thời kỳ Reaganomics/Thatcherism cực thịnh, quá trình deregulation và privatisation thắng thế, vai trò ngày càng thu hẹp của nhà nước và niềm tin gia tăng của dân chúng vào thị trường thể hiện rõ. Tuy nhiên, có lẽ sau vụ 11/9, xã hội lại cảm thấy cần thiết có một nhà nước đủ mạnh để xử lý những mối đe dọa đến từ bên ngoài khi mối "đe dọa Big Government" chỉ là 47% vào đâu đó trong thời gian 2002-2003. Giai đoạn tiếp theo, như những gì chúng ta đã chứng kiến về irrational exuberance, cả xã hội Mỹ tràn đầy hứng khởi khi mua nhà và tiêu tiền tín dụng thoải mái, đâu cần đến nhà nước, thì cái threat này túc tắc tăng lên trên 60%. Đến thời điểm này, con số đó đã rơi xuống mức 55%, và con số đó hoàn toàn có thể được diễn dịch như cách của USA Today. Cũng chính vì cái perception về Big Government này mà chính phủ Mỹ rất trù trừ trong phương cách giải cứu các công ty lớn, cả ở Wall Street và Main Street, không nationalise hoặc đổi debt lấy capital như ở Anh hoặc một số nước châu Âu khác mà chủ yếu vẫn thiên về bơm cash hoặc mua lại toxic assets (như TARP hay PIPP).

Friday, 8 May 2009

Naomi Klein vs. Tom Friedman

Vẫn bài đăng trên báo SVVN số hôm rày :)

1. Sự ủng hộ toàn cầu hóa đã được thể hiện một cách mạnh mẽ trong các tác phẩm của Friedman (nhất là "Thế giới phẳng"). Đối ứng của trào lưu này, như thể hiện trong "No Logo", chủ yếu thể hiện ở các khía cạnh nào?

No Logo thể hiện quan điểm phản đối toàn cầu hóa, mà thực chất là sự thao túng của các tập đoàn, đại công ty đa quốc gia đối với xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới tư bản, một nhóm các đại công ty có trong tay quyền lực mềm thậm chí nhiều lúc còn lớn hơn nhà nước ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Tại các nước đang phát triển, họ sử dụng các chiêu thức quảng cáo, tiếp thị bằng mọi biện pháp và tại mọi nơi (kể cả trong trường học, nhà thờ, cơ quan công quyền). Lớp trẻ phương Tây lớn lên trong sự lệ thuộc vào các nhãn hiệu nổi tiếng bất kể rằng những thứ đó có thực sự tốt và hữu ích cho xã hội không. Những khoản lợi nhuận kếch sù, những hợp đồng quảng cáo đắt giá của các đại công ty đó lại nhờ sự khai thác nguồn lao động giá rẻ tại các nước đang phát triển. Theo lập luận của Klein, và những người cùng chủ trương, toàn cầu hóa là một game dạng win-loss-loss, theo đó bên được lợi duy nhất là các tập đoàn đa quốc gia, và phần thiệt hại thuộc về chính phủ các nước và toàn xã hội.

2. Ảnh hưởng của "No Logo" và các tác phẩm khác của Naomi Klein (nhất là "Shock Doctrine") lên phong trào chống toàn cầu hóa?

No Logo (2000) là tác phẩm đầu tiên trong bộ ba cuốn sách về cùng chủ đề chống toàn cầu hóa của Naomi Klein (cùng với Fences and Windows (2002) và mới nhất là The Shock Doctrine (2007)) ra đời ngay sau thời điểm rất đáng nhớ đối với cả hai phía ủng hộ và chống toàn cầu. Đó là Cuộc chiến Seattle 1999 – trong đó 40.000 người của phong trào chống toàn cầu hóa đã biểu tình tại Washington để phản đối hội nghị bộ trưởng WTO. Rất nhanh chóng, tác phẩm của nữ nhà báo Canada trở thành cẩm nang của phe chống toàn cầu hóa. Họ tìm thấy ở đó những dẫn chứng sắc sảo, quyết liệt, làm lay động lòng người khi lên án các đại công ty. Và Klein trở thành một trong những “người phát ngôn” của Diễn đàn Xã hội thế giới – tổ chức của những người chống toàn cầu hóa, được xếp vị trí thứ 11 (người phụ nữ được xếp cao nhất) trong cuộc bình chọn 100 học giả hàng đầu thế giới do hai tạp chí Prospect và Foreign Policy tổ chức. Đầu năm 2009, Klein được giới trẻ Mỹ, qua tạp chí Rolling Stone, bình chọn trong số 100 người sẽ làm thay đổi nước Mỹ trong thế kỷ 21.

3. Với tư cách là nhà nghiên cứu kinh tế, anh có thể cho biết quan điểm riêng về "No Logo"?

Tương tự Thomas Friedman ở The New York Times, trước hết Naomi Klein là một nhà báo nên cách tiếp cận của No Logo và The World is Flat tương đối giống nhau: văn phong lôi cuốn, hấp dẫn, giàu cảm xúc, sử dụng nhiều chiêm nghiệm bản thân và thông qua hình thức phỏng vấn, điều tra báo chí. Cách tiếp cận này thường dễ được đông đảo công chúng tiếp nhận. Tuy nhiên, đây cũng là một điểm yếu của cuốn sách vì thiếu những lập luận kinh tế giải thích về những điều tốt – xấu của quá trình toàn cầu hóa. Nhìn từ góc độ làm chính sách của một quốc gia, toàn cầu hóa không phải là sự bắt buộc, đó là sự lựa chọn. Klein đã không giải thích được vì sao các nước đang phát triển vẫn chấp nhận, và thậm chí còn phải cạnh tranh lẫn nhau để các công ty sử dụng lao động với giá rẻ mạt trong những ngành tạo ra giá trị gia tăng thấp. Cũng dễ hiểu khi hướng vào các công ty đa quốc gia làm đối tượng để chỉ trích, vì nó trực diện, hiển hiện. Tuy nhiên, bản chất của vấn đề lại ở chỗ khác: những khuyết tật mang tính hệ thống của chủ nghĩa tư bản. Và điều đó phức tạp và cần sửa chữa theo một cách khác hơn là phá hoại tài sản của các công ty đa quốc gia như những gì diễn ra ở Seattle (1999) hay Genoa (2001).

Cuộc đấu tranh của Klein và những người cùng chí hướng không phải là vô ích trong một thế giới tư bản nhiều lúc được điều khiển bằng sức mạnh của đồng tiền. Trong một báo cáo của Liên Hiệp Quốc mang tên “Toàn cầu hóa với khuôn mặt nhân bản” có đoạn “các nguyên tắc hoạt động của các công ty đa quốc gia về tiêu chuẩn lao động, thương mại công bằng và bảo vệ môi trường… cần phải chống lại các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đối với các nước nghèo nhất” và rằng “Một khía cạnh thiết yếu trong quản trị toàn cầu là trách nhiệm đối với con người – về sự bình đẳng, công lý và sự mở rộng quyền lựa chọn của tất cả mọi người.

Thursday, 7 May 2009

No Logo

Một thế giới không phẳng

Điểm sách No Logo - Naomi Klein (Bài đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam)

Trong số những cuốn sách tiêu biểu vạch trần những góc khuất phía sau các đại công ty như Làm ra tội ác(Lionel Tiger), Tự thú của một sát thủ kinh tế (John Perkins), Linh hồn của chủ nghĩa tư bản (William Geider)... thì No Logo: Taking arms at the brand bullies của nhà báo nữ người Canada Naomi Klein được coi là có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với phong trào chống toàn cầu hóa, chống sự thao túng của các tập đoàn đa quốc gia đối với người tiêu dùng, các chính phủ và ngay cả với các cổ đông của chính họ.

No Logo (với bốn phần: Không không gian, Không lựa chọn, Không việc làm, và Không biểu tượng) đưa đến cho người đọc một cái nhìn khác về toàn cầu hóa, về một thế giới nơi người dân nghèo ở các nước đang phát triển bị vắt kiệt sức lao động tại các nhà xưởng để sản xuất hàng hóa với chi phí thấp nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho các nước phát triển. Hơn nữa, ngay tại chính các nước phát triển, người dân, đặc biệt là giới trẻ, bị bao vây xung quanh bởi vô vàn thông điệp quảng cáo của các đại công ty (global-player), kể cả tại trường học và cơ quan công quyền, và trở thành những người tiêu dùng “ngoan ngoãn”, dễ dàng chạy theo những trào lưu sống “sành điệu” cho giống với hình ảnh lý tưởng được chính các công ty dựng lên.

Các đại công ty còn là những nhóm lợi ích có tiếng nói mạnh mẽ, có thể vươn tầm ảnh hưởng đến chính sách của bất kỳ chính phủ nào. Tác giả của No Logo kể lại một câu chuyện ít người biết tới rằng chính nước Mỹ đã ngăn cản nỗ lực thành lập một cơ quan quốc tế mang tên Ủy ban về Công ty Đa quốc gia của LHQ. Ngay từ thập niên 1970, Ủy ban này đã khởi thảo một bộ quy ước mang tính toàn cầu cho các công ty đa quốc gia. Mục tiêu của quy ước là phòng ngừa các hành vi lạm dụng của các công ty phương Tây tại các nước thế giới thứ ba; kiểm nghiệm các tác động môi trường và người lao động của các nhà máy xuất khẩu và khai thác tài nguyên; và thúc đẩy khu vực tư nhân hướng tới sự minh bạch và tín nhiệm cao hơn.

Những dẫn chứng mà Klein đưa ra không khỏi khiến độc giả suy ngẫm về tính công bằng trong xã hội. Chẳng hạn, tất cả 50 nghìn công nhân tại nhà máy gia công giày Yue Yen ở Trung Quốc cần làm việc trong 19 năm để có thu nhập bằng chi phí quảng cáo của Nike trong một năm. Hay mỗi một giờ Michael Eisner, CEO của Disney có thu nhập 9.783 USD trong khi một người công nhân Haiti kiếm được 28 cent (điều đó có nghĩa là một công nhân Haiti phải làm việc cật lực gần 17 năm để kiếm được số tiền bằng thu nhập của Eisner trong 1 giờ) và quyền chọn mua cổ phiếu trị giá 181 triệu USD của Eisner thực hiện trong năm 1996 đủ cho 19 nghìn công nhân Haiti và gia đình họ sống trong 14 năm! Những mầm mống tiềm ẩn của cuộc suy thoái kinh tế trên quy mô toàn cầu hiện nay phần nào cũng bắt nguồn từ chính những bất bình đẳng như vậy.

Điểm mạnh của No Logo chính là giọng văn hấp dẫn, đầy cảm xúc của tác giả khi lên án mạnh mẽ, quyết liệt các công ty đa quốc gia. Tuy nhiên, nhiều lập luận của bà tỏ ra thiếu sức thuyết phục bởi chính sự cực đoan thiên tả từ một thế giới quan mà chính bà thừa nhận là đã chịu ảnh hưởng từ cha mẹ bà – những người hippy của thập niên 1960. Khi chỉ trích các công ty đa quốc gia bóc lột nhân công giá rẻ và khai thác tài nguyên tại các nước đang phát triển, bà không giải thích được tại sao các nước đang phát triển vẫn tìm mọi cách, kể cả miễn thuế, để thu hút đầu tư nước ngoài. Phần 4 của cuốn sách là phần kém thuyết phục nhất khi Klein không đưa ra được phân tích kinh tế khả thi nào để giải quyết những khiếm khuyết của thị trường do các hành vi lạm dụng của các đại công ty mà thay vào đó, bà khuyến khích cộng đồng phản ứng bằng các cuộc phản kháng mang màu sắc bạo lực như những gì đã diễn ra tại Seattle năm 1998.

“Trong giai đoạn suy thoái này, nền kinh tế thị trường tự do, điều tiết tối thiểu, cũng như những niềm tin lạc quan vào một “thế giới phẳng” theo trường phái tân tự do (neo-liberal) - vốn được coi là quan điểm chính thống được các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế nhiệt thành cổ vũ - đã bộc lộ rõ những khiếm khuyết cần thiết phải có sự điều chỉnh một cách cơ bản.

Ngoài cuốn sách đầu tay No Logo, Klein còn có cuốn bestseller The Shock Doctrine: The Rise of Disaster Capitalism (xuất bản rộng rãi trên khắp thế giới tháng 9/2007 và đã được dịch sang 27 ngôn ngữ). Hiện nay Klein là cây viết thường kỳ cho tờ The Nation và The Guardian. Klein vừa được tạp chí Rolling Stone (3/2009) nhận định là một trong 50 người sẽ làm biến đổi nước Mỹ trong thế kỷ 21.

-----

* Trích đoạn No Logo:

“Chuyển sang năm 1998. Gap tung ra chiến dịch quảng cáo mang tính đột phá Khakis Swing (nhảy nhạc swing kaki): đó là một đoạn video ca nhạc đơn giản, vui nhộn “Jump, Jive ’n’ Wail” (nhảy, chơi nhạc Jive và gào thét) - nó trở thành một đoạn phim rất nổi tiếng lúc đó. Người ta không thèm để tâm băn khoăn về việc liệu những quảng cáo này có “đồng hóa” được tính toàn vẹn nghệ thuật của âm nhạc hay không. Quảng cáo của Gap không nhằm để kiếm lợi từ sự sống dậy của dòng nhạc swing hồi cố (retro swing) - có thể chắc chắn mà lập luận rằng chính họ đã tạo ra sự phục hưng ấy. Một vài tháng sau, khi nhạc sĩ kiêm ca sĩ Rufus Wainwright xuất hiện trên trang quảng cáo của Gap theo chủ đề Giáng sinh, đĩa hát của ông bán chạy hẳn, đến nỗi công ty thu âm của ông bắt đầu gọi ông là “gã trai trên các quảng cáo của Gap.” Cùng lúc đó Macy Gray, nữ ca sĩ hát nhạc R&B mới với bài hát “It Girl,” đã tạo cho mình một bước nhảy vọt khi xuất hiện trong một quảng cáo Baby Gap. Điều trái ngược đã xảy ra: không phải các quảng cáo vải kaki của Gap trông na ná những đoạn video của chương trình MTV, mà dường như chỉ trong một thời gian ngắn, hầu hết các video clip trên MTV, từ Brandy cho đến Britney Spears, hay nhóm Backstreet Boys đều bắt chước quảng cáo của Gap; công ty này đã đi tiên phong về thứ thẩm mỹ của riêng mình, để rồi nó tuôn chảy vào âm nhạc, vào các quảng cáo khác, thậm chí là vào cả phim ảnh như bộ phim Ma trận (The Matrix). Sau năm năm xây dựng ồ ạt thương hiệu kiểu phong cách sống, hãng Gap đã đóng một vai trò đáng kể trong việc tạo dựng văn hóa, giống như các nghệ sĩ trong các quảng cáo của họ.”

(...)

“Được tiếp thêm sức bởi những hứa hẹn sóng đôi của thương hiệu hóa và thị trường trẻ, các công ty trải qua một thời kỳ “bùng nổ năng lực sáng tạo”. Sự mới lạ, khả năng thay thế, sự trẻ trung, hợp thời - hay bất kỳ cái tên gì mà bạn muốn gọi - là những đặc tính hoàn hảo cho các công ty vốn dựa vào sản phẩm tìm cách trở thành các thương hiệu siêu việt dựa trên hình ảnh. Những nhà quảng cáo, những giám đốc thương hiệu, nhà sản xuất âm nhạc, phim hay chương trình truyền hình đua nhau xâm nhập các trường học, nịnh nọt “nhóm tinh hoa” tại đó trong một nỗ lực điên cuồng để lọc ra và tái hiện trong các quảng cáo trên truyền hình “thái độ” chính xác của bọn trẻ tuổi teen và những người ngoài hai mươi tuổi bị tâm lý tiêu thụ cuốn hút, với những thứ đồ ăn vặt và những bài hát nhạc pop. Từng phút từng giây ở khắp trường trung học vang lên câu hỏi “Mình có hợp thời không?”, nó đã trở thành câu hỏi mang nặng tính tiêu dùng đến phát chán, mà chúng ta có thể bắt gặp không chỉ trong những lớp học và những phòng thay đồ, mà còn ở những buổi gặp mặt quan trọng và những cuộc họp của cán bộ trường lớp.

Sự kiếm tìm phong cách hợp thời về bản chất chứa đựng sự tự ngờ vực bản thân mình (“Cái này có hợp thời không?”, bạn có thể nghe thấy cả đám trẻ mua hàng tuổi teen hỏi nhau. “Cậu có nghĩ là cái này quá tệ không?”) Chỉ có điều bây giờ những thắc mắc dằn vặt của thời kỳ thanh thiếu niên lại là những câu hỏi đáng giá hàng triệu đô la trong thời đại của chúng ta. Sự thiếu tự tin đang vây lấy bàn họp ban giám đốc các công ty, biến những nhà viết quảng cáo, giám đốc nghệ thuật hay những giám đốc điều hành thành các anh chàng tuổi teen thân hình béo tốt, đi qua đi lại trước tấm gương trong phòng ngủ và cố gắng tỏ ra bàng quan. “Liệu giới trẻ có thấy chúng ta hợp thời không? Hay chúng ta đã thực sự cố gắng để đạt được sự hợp thời ấy chưa, chúng ta đã thực sự hợp thời và hấp dẫn chưa? Chúng ta có một hình ảnh chưa? Hình ảnh đó có đúng không?"

(...)

"Hội tụ lại ở Nike là những kiểu dáng, quan điểm và hình ảnh đi vay mượn ở thanh thiếu niên da đen ở thành thị đến mức mà công ty có một ngôn từ riêng để chỉ chuyện này: bro-ing (kết tình anh em). Đó là khi các nhà tiếp thị và nhà thiết kế của Nike mang những mẫu của họ tới các khu nghèo nội ô của New YorkPhiladelphia hayChicago và nói: “Này người anh em, hãy thử đôi giày này xem,” để đánh giá phản ứng đối với sản phẩm mới và tạo dựng những tin đồn. Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Josh Feit, nhà thiết kế Aaron Cooper của Nike miêu tả chiến dịch kết tình anh em ở Harlem như sau: “Chúng tôi đến sân chơi của bọn trẻ, đổ một đống giày ra đấy. Thật không thể tin được, lũ trẻ gần như phát điên. Chúng nói rằng, đối với chúng Nike là số một trong cuộc đời chúng, và bạn gái chỉ xếp thứ hai. Đấy là lúc mà bạn nhận ra được tầm quan trọng của Nike.” Nike còn thành công trong việc thương hiệu hóa các sân bóng rổ khi tiến hành “kết tình anh em” thông qua nhánh làm từ thiện của nó là P.L.A.Y (viết tắt của Participate in the Lives of Youth - Sống cùng thanh niên). P.L.A.Y tài trợ cho những chương trình thể thao khu nghèo nội thị, đổi lấy việc xuất hiện những logo dấu trăng có thể nhìn thấy được rất rõ, trong đó có những logo dấu trăng khổng lồ ở ngay giữa những sân bóng rổ thành phố mới nổi. Ở những khu phố sang trọng hơn thì những chuyện như thế được gọi là một sự quảng cáo và không gian đó phải trả một cái giá, nhưng ở những trường hợp “bình dân” này, Nike không mất đồng nào cả mà chi phí được tính cho chuyện từ thiện."

(...)

Học sinh cũng có thể nhận ra rằng cuộc chiến thương hiệu đang xảy ra ngay trên cái cái máy bán hàng tự động bên ngoài phòng tập thể dục. Nhiều ban giám hiệu các trường ở Mỹ và Canada đã trao độc quyền bán hàng cho công ty Pepsi-Cola, thường là để đổi lấy một khoản tiền lớn nói chung không được tiết lộ. Những gì công ty Pepsi thương thảo đổi chác trong việc này đối với mỗi hạt là khác nhau. Ở Toronto, công ty này cung cấp toàn bộ máy bán hàng tự động cho 560 trường công lập, nhằm ngăn chặn sự bán hàng của công ty Coke và các đối thủ khác ở khu vực này, đồng thời phát giải thưởng “Pepsi về thành tích học tập” và nhiều món quà lặt vặt khác có logo của công ty. Ở những cộng đồng như Cayuga, một thị trấn thuần nông chuyên sản xuất thuốc lá trong tỉnh Ontario, Pepsi mua quyền được xây dựng thương hiệu trong toàn bộ trường học của vùng. Bên vệ đường là những tấm biển khổng lồ “Pepsi - Nước uống giải khát chính thức ở các trường phổ thông trung học Cayuga”. Ở trường phổ thông South Folk, bang Florida, thì có một thỏa thuận buôn bán mang tính o ép: trong hợp đồng với công ty Pepsi có một điều khoản là trường này cam kết sẽ “làm hết sức có thể để tăng tối đa cơ hội bán hàng cho sản phẩm của công ty Pepsi-Cola.” Những thỏa thuận xúc tiến thương mại kỳ quặc và lộn xộn tương tự như vậy được áp đặt lên các trường phổ thông và đại học trên khắp thế giới. Ở hầu hết các trường đại học ở Bắc Mỹ, các biển quảng cáo xuất hiện khắp nơi: nhà để xe đạp của trường, trên ghế dài, hành lang dẫn đến giảng đường, trong thư viện và thậm chí trong phòng tắm.

(Trích từ No Logo, Naomi Klein, bản dịch của nhóm S-Team, sắp được Cty Nhã Nam phát hành)

Tuesday, 5 May 2009

Antitrust in China

Hôm nay trên mục bình luận chính của Financial Times (Mục này có slogan là Không sợ và không thiên vị – “Without fear and without favour” có bài nói về thực thi chống độc quyền của Trung Quốc.

http://www.ft.com/cms/s/0/c7236f86-38d4-11de-8cfe-00144feabdc0.html

Luật Chống độc quyền của nước này mới được đưa ra từ tháng 8 năm ngoái – tức là còn chậm hơn 3 năm so với Việt Nam, thế nhưng đến nay cơ quan thực thi Luật này – Bộ Thương Mại - đã xử lý 3 vụ làm kinh ngạc giới kinh doanh và giới Luật sư Mỹ - Âu. Vụ mới nhất thông báo cách đây vài ngày là quyết định hạn chế thương vụ thâu tóm hãng hóa chất Lucite International của Vương Quốc Anh của tập đoàn Mitsubishi Rayon (Nhật Bản) trị giá 1.8 tỷ USD (Trung Quốc là nước duy nhất trên thế giới không chấp nhận cho vụ này tiến hành), buộc công ty của Anh phải bán lại một nửa bộ phận sản xuất hạt nhựa (polymer). Hồi tháng 3, cơ quan này đã bác bỏ đề nghị của Coca Cola mua lại hãng nước ngọt Hối Nguyên (Huiyuan) của Trung Quốc với giá 2.4 tỷ USD, một động thái mà ngay cả nhiều luật sư M&A cũng bất ngờ. Trước đó, thương vụ mua lại trị giá 52 tỷ USD của InBev đối với Anheuser-Busch cũng bị hạn chế, dù rằng vụ sáp nhập này, cũng như vụ Mitsubishi-Lucite là các vụ sáp nhập quốc tế và các bên tham gia chỉ có một bộ phận hoạt động tại Trung Quốc.

Một trong hai tờ nhật báo kinh doanh có ảnh hưởng nhất trên thế giới này (cùng với Wall Street Journal) nhận định một số điểm đáng chú ý sau từ các vụ sáp nhập trên:

1/ Bộ Thương Mại Trung Quốc tỏ ra rất cứng rắn thực thi luật chống độc quyền

2/ Trung Quốc không hề do dự can thiệp vào các vụ sáp nhập xuyên biên giới lớn

3/ Cùng với Mỹ và Liên minh châu Âu, Trung Quốc trở thành một trọng tài về cạnh tranh tầm cỡ toàn cầu, cung cấp thêm cho các luật sư M&A thêm một đống công việc mới cần giải quyết

FT cũng cho rằng các phán quyết nêu trên là không chi tiết ở mức cần có. Ví dụ, phán quyết vụ Mitsubishi/Lucite chỉ dài chưa tới 2 trang (mặc dù đã có tiến bộ hơn so với hai phán quyết trước).

Nếu so với thông lệ các phán quyết tương tự của các cơ quan cạnh tranh khác (thường phải vài nghìn trang) thì rõ ràng dù súc tích đến đâu thì 2 trang cũng khó mà giải thích được rốt ráo lý do phản đối sáp nhập. Cơ sở của phán quyết là công ty hình thành sau sáp nhập có thể có thị phần 64% đối với methyl methacrylate (hóa chất dùng để sản xuất nhựa trong) và không thực sự thuyết phục về quan ngại liên quan đến cạnh tranh. Vụ Coke thì bị cho rằng để bảo vệ một thương hiệu quen thuộc trong nước sau một cuộc phản đối thương vụ này trên mạng Internet vì nhiều người tiêu dùng lo rằng Coke sẽ “thủ tiêu” cái tên Hối Nguyên sau khi mua được. Vụ InBev/Anheuser-Busch cũng làm giới luật sư đau đầu với phán quyết tuyên rằng không có quan ngại về cạnh tranh, nhưng vẫn áp đặt các hạn chế đối với công ty sau sáp nhập. Bắc Kinh có quyền thực thi luật chống độc quyền. Với thị trường lớn một cách đáng kể đủ để có tiếng nói không kém gì so với Washington hay Brussels trong các vụ sáp nhập. Nhưng FT cho rằng: 

Trung Quốc cần phải công bằng, không để lẫn lộn giữa chinh sách công nghiệp và chống độc quyền – một điều mà nhiều người quan ngại sau vụ bác bỏ thương vụ Coke. Nếu động thái của Bắc Kinh được hiểu là tiến hành chủ nghĩa bảo hộ dưới lớp vỏ chống độc quyền, các chính phủ khác sẽ đáp trả. Và điều này có thể dẫn tới một cuộc chiến thương mại mang tính trả đũa. Từ giờ trở đi, các phán quyết chống độc quyền của Trung Quốc cần được giải thích kỹ càng hơn. Nếu không thực sự có quan ngại về cạnh tranh, các thương vụ cần được cho phép tiến hành mà không bị cản trở.

 

Bình luận:

Một bài ngắn, nhưng FT đã chỉ ra được đúng vấn đề mấu chốt (mặc dù chỉ ở dạng đặt câu hỏi): Phải chăng Trung Quốc đang sử dụng Luật Chống độc quyền để thực hiện bảo hộ thương mại, thực thi chính sách công nghiệp? Tôi nghĩ rằng câu trả lời là: Đúng vậy. Đó là bản chất, mặc dù từ "bảo hộ thương mại" (protectionism) không phải là một từ dễ nghe. Nhưng chẳng phải trong hội nghị G-20 vừa rồi các nhà lãnh đạo thế giới đều "tỏ ra quan ngại trước xu hướng gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ" đó hay sao? Ai mà làm các nguyên thủ các nước phát triển quan ngại được? Chính là giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau đang lăm le bảo vệ các ngành sản xuất chủ chốt trong nước đang cắm đầu xuống đất chứ không phải mối quan ngại đến từ các nước đang phát triển. Cùng lúc, họ lại kêu gọi các nước khác đừng bảo hộ nhé, tức là "beggar thy neighbors" (cụm từ dạo này tờ The Economist thường dùng). 

Một trong những điểm quan trọng của đồng thuận Washington (Washington Consensus) là thúc đẩy nới lỏng kiểm soát của nhà nước (deregulation), khuyến khích cạnh tranh giữa mọi thành phần kinh tế. Điều này thì tất nhiên là đúng với châu Âu và Mỹ rồi, vì các doanh nghiệp của các nước này thừa đủ sức để cạnh tranh với nhau và cạnh tranh với bất kỳ ai trên thế giới, không cần sự can thiệp của nhà nước. Nhưng điều đó chỉ đúng trong hiện tại (hiện tại theo nghĩa là trước khủng hoảng kinh tế 10/2008). Và không hẳn đã đúng trong quá khứ phát triển của chính các nước đó. Tự do thương mại không phải là một khái niệm được yêu thích khi Mỹ và các nước châu Âu ở giai đoạn đầu công nghiệp hóa. Không nước nào phát triển được mà không sử dụng chính sách bảo hộ công nghiệp. Một trong biện pháp được ưa thích trước đây (cùng với hàng rào thuế quan và trợ cấp của nhà nước cho các ngành then chốt) chính là chính sách cạnh tranh. Đây là một câu chuyện lịch sử thú vị tôi sẽ bàn ở một dịp thích hợp. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ làm chính sách thì sự tung hứng khéo léo giữa ba chính sách: công nghiệp – thương mại – cạnh tranh là chìa khóa để đưa một quốc gia từ tình trạng đang phát triển trở thành nước công nghiệp phát triển (Máu và xăng cho tiến trình phát triển đó là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ). Dường như nhà nước Trung Quốc đã học rất kỹ lịch sử kinh tế phương Tây và đang áp dụng lại bài học đó.

Các nước đang phát triển ngày nay có cần một chính sách chống độc quyền theo kiểu Mỹ hay không?

Thực ra Mỹ không phải là nước đầu tiên có luật về cạnh tranh. Từ năm 1810, nước Pháp đã áp dụng Điều 419 Bộ Luật Hình sự, theo đó liên kết giữa những người bán bị coi là phạm pháp. Sự bắt tay đó sẽ làm tăng hoặc giảm giá trên hoặc dưới mức “cạnh tranh tự nhiên và tự do”. Tuy nhiên, điều luật này không được áp dụng đầy đủ và bị bãi bỏ vào năm 1880. Từ thập kỷ 1890, tòa án Pháp bắt đầu chấp nhận cho phép các cartel “có tính chất tự vệ” và ủng hộ các thỏa thuận đó. Chỉ đến năm 1986 (tức là hơn 100 năm sau) thì nước Pháp mới khôi phục Điều 419 và áp dụng một luật chống độc quyền “hiện đại” và đầy đủ như hiện nay.

Nước Mỹ là quốc gia tiên phong trong luật cạnh tranh “hiện đại”. Luật Sherman ra đời năm 1890, nhưng 5 năm sau mới được Tối cao Pháp viện dẫn chiếu trong vụ Sugar Trust. Trước thời điểm năm 1902, khi tổng thống Roosevelt dùng nó để chống lại Northern Securities Company của JP Morgan nắm giữ hệ thống đường sắt, luật này chủ yếu chỉ để chống lại công đoàn chứ không phải với các đại công ty. Roosevelt lập ra Cục Công ty (Bureau of Corporations) năm 1905 để điều tra các hoạt động sai trái của các công ty; và Cục này được nâng cấp thành Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) vào năm 1914 bằng Luật Clayton (luật này cũng cấm dùng pháp luật chống độc quyền để chống công đoàn).

Trong thế kỷ 19, nước Anh không ủng hộ cũng chẳng lên án các tập đoàn độc quyền và các hành vi phản cạnh tranh. Tuy nhiên, cho tới trước Thế chiến thứ Hai, tòa án nước này thường thiên về luận cứ ủng hộ các thỏa thuận hạn chế thương mại. Luật chống độc quyền đầu tiên mang tên Profiteering Act chỉ tồn tại có 2 năm (từ 1919 đến 1921), được ra đời để đối phó với tình trạng thiếu hụt hàng hóa sau chiến tranh. Trong thời Đại Khủng hoảng thập kỷ 1930, nước Anh hậu thuẫn cho việc hình thành các cartel. Chỉ đến năm 1948, khi Luật xử lý độc quyền và hạn chế thương mại mới xác định khuôn khổ pháp luật chống độc quyền, nhưng hầu như nó không có hiệu lực thực thi. Luật xử lý Hạn chế thương mại (Restrictive Practices Act) năm 1956 mới thực sự là luật chống độc quyền theo nghĩa là lần đầu tiên các hành vi hạn chế cạnh tranh bị coi là đi ngược lại quyền lợi của công chúng từ khi doanh nghiệp có thể chứng minh điều ngược lại. Luật 1956 chống các cartel một cách có hiệu quả, nhưng vẫn hầu như không thành công đối với quá trình độc quyền hóa thông qua sáp nhập.

Tương tự thế, ban đầu nước Đức ủng hộ các cartel mạnh mẽ, và tiếp sức cho các thỏa thuận cartel trong thời kỳ đầu (cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20). Mục đích là để tạo ra một nền công nghiệp đủ mạnh để vươn lên cạnh tranh với các nước đã phát triển trong thời kỳ trước đó như Anh, Mỹ, Pháp. Đỉnh điểm là một phán quyết ban hành năm 1897 của tòa án tối cao nước này theo đó cartel là hợp pháp. Kể từ Thế chiến thứ Nhất trở đi, quá trình cartel hóa ngày càng mở rộng, và là một phương thức để nhà nước thực hiện kế hoạch hóa nền kinh tế.  Luật Cartel năm 1923 trao quyền vô hiệu hóa cartel cho tòa án là luật cạnh tranh tổng quát đầu tiên ở châu Âu. Tuy vậy, luật này vẫn không được thực thi, vì cartel được định nghĩa rất hẹp và cơ quan được trao quyền thực thi luật này (Bộ Kinh tế và tòa án cartel) chẳng hề áp dụng luật lấy một lần. Tòa án cartel bị giải thể năm 1930 khi một loạt các luật khẩn cấp trao quyền cho nhà nước giải thể bất kỳ cartel nào nếu thấy cần thiết. Năm 1933, ngay khi Hitler lên nắm quyền, Bộ Kinh tế được trao quyền phủ quyết bất kỳ cartel nào nhưng lại có thể ra nghị định thành lập các cartel bắt buộc.

Các nước phát triển khác (Na Uy, Đan Mạch, Nhật Bản) cũng sử dụng luật chống độc quyền theo cách tương tự trong lịch sử.

Tương tự như chính sách cạnh tranh, các chính sách công nghiệp và thương mại cũng đã thể hiện xu hướng bảo hộ và trợ giúp công nghiệp nội địa còn non trẻ (infant industry – Alexander Hamilton, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của nước Mỹ là người tạo ra khái niệm này, khi thuyết phục Quốc hội Mỹ gia tăng hàng rào bảo hộ - cũng là người có mặt trên tờ $10) tập trung kinh tế (đặc biệt là các ngành then chốt – hay các commanding heights (chữ dùng của V.I. Lenin áp dụng trong NEP-Chính sách kinh tế mới-thời kỳ phôi thai của nhà nước Xô Viết) để phát triển đủ sức cạnh tranh và lớn mạnh trên phạm vi thế giới. Ngược lại, một nước nào đang trong giai đoạn đầu của phát triển, nếu chấp nhận cạnh tranh tuyệt đối theo kiểu thị trường của chủ nghĩa tân tự do, thì, lịch sử đã chứng minh, sẽ chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp nhân công lao động giá rẻ và tài nguyên tự nhiên cho các nước phát triển mà thôi. Một đứa trẻ nếu bị quăng ra thị trường lao động để kiếm tiền năm nó 10 tuổi thì nó chỉ có thể làm được những việc lặt vặt để có hai ba chục nghìn mỗi ngày. Cũng một đứa trẻ đó, nếu bố mẹ nó bỏ tiền nuôi nó ăn học đến năm tốt nghiệp đại học, thì sau đó nó có thể tự lo cuộc sống và có một nghề nghiệp vững vàng trong xã hội.

Monday, 4 May 2009

Atlas Shrugged - Ayn Rand vs. Karl Marx






ATLAS SHRUGGED – AYN RAND VS. KARL MARX


Atlas Shrugged là cuốn tiểu thuyết thứ 4, cuối cùng và cũng là cuốn dài nhất của Ayn Rand (gần 1400 trang – theo bản in đầu tiên năm 1957). Bà này là ai thì chắc cũng không phải dài dòng, nội việc Alan Greenspan thừa nhận chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất về tư tưởng là đủ nói lên nhiều điều (Xem The Age of Turbulences). Chính cuốn này, chứ không phải The Fountainhead (đã được nhóm Phan Việt dịch ra tiếng Việt) được chính Rand coi đó là magnum opus của mình. (“Atlas Shrugged was the climax and completion of the goal I had set for myself at the age of nine. It expressed everything that I wanted of fiction writing.”). Một trong những sự kiện lớn trong năm cái năm Rand lên 9 tuổi khi ấp ủ viết một cuốn sách triết học về xã hội Mỹ (1911 – bà sinh năm 1905) là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một tập đoàn lớn là Standard Oil đã bị Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ tuyên án độc quyền“một cách bất hợp lý”chiểu theo Luật Chống độc quyền Sherman ban hành từ trước đó hơn 20 năm. Phán quyết này đã buộc Standard Oil phải chia tách thành nhiều công ty con để hạn chế tổn thất phúc lợi xã hội có được từ vị thế độc quyền. Đó là một cột mốc quan trọng trong mối quan hệ giữa nhà nước, nhà tư bản và xã hội trong thế giới tư bản với bối cảnh là sự ra đời của một thể chế đối trọng với tư bản chủ nghĩa mang tên Liên bang Xô Viết, vì thế đương nhiên là nó ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Mỹ. Nhưng cũng thật kỳ lạ là một bé gái 9 tuổi lại chớm có ý tưởng viết sách về những rạn nứt, mâu thuẫn trong xã hội. Điều này chắc chỉ có ở phương Tây, và chắc thế giới đến nay cũng chỉ có Rand.

Nội dung cuốn sách tả về một xã hội Mỹ địa ngục (chữ của Rand là dystopian – ngược lại với xã hội lý tưởng utopia của Thomas Moore) khi các nhà công nghiệp và doanh nhân không chấp nhận để chính phủ “bóc lột” lao động của họ vì “điều tốt cho xã hội”. Nhân vật chính, Dagny Taggart, chứng kiến xã hội sụp đổ xung quanh khi chính phủ gia tăng quyền kiểm soát đối với tất cả các ngành công nghiệp, trong khi những công dân có năng suất cao nhất trong xã hội, do John Galt làm đại diện, ngày càng ít đi.

Atlas Shrugged thể hiện rõ tư tưởng triết học khách quan chủ nghĩa (Objectivism) của Rand về sự tự do của mỗi cá nhân, duy lý, về vai trò của kinh tế thị trường và sự thất bại của nhà nước.

Khi mới ra đời cách đây hơn 50 năm, cuốn sách không được đánh giá cao lắm (xem http://www.noblesoul.com/orc/books/rand/atlas/) nhưng kể từ sự nổi lên của chủ nghĩa thị trường tự do trong các chính phủ Anh – Mỹ thời thập kỷ 70 tới nay (bắt đầu từ thời kỳ Reagan – Thatcher), sức ảnh hưởng của cuốn sách nói riêng và Rand ngày càng mạnh mẽ. Đặc biệt kể từ khi thế giới rơi vào vòng xoáy của khủng hoảng từ năm 2008, số bản in của Atlas Shrugged tăng đột biến, theo The Economist và The New York Times. Đến tháng 1/2009, cuốn tiểu thuyết xếp thứ #33 trong danh sách sách bán chạy nhất của Amazon.com. 3 tháng sau, đến đầu tháng 4/2009, nó đứng thứ #15 và Amazon xếp nó thứ nhất trong thể loại sách văn học.

Và bây giờ, chúng ta hãy xem một số liệu khác, những người dùng internet trên thế giới đang đọc gì trong mối tương quan với Ayn Rand khi đã biết là hiện tại cuốn sách hơn 50 tuổi của bà đứng vị trí thứ nhất. Công cụ Google Insight cho ta một bức tranh tổng thể.




Hai đường thể hiện xu hướng tìm kiếm trong 12 tháng qua với 2 từ khóa “Ayn Rand” (đỏ) và “Karl Marx” (xanh). Số liệu được quy chuẩn, với 100 là con số lớn nhất. Marx được tìm kiếm nhiều hơn nhiều. Đặc biệt tại một số thời điểm có các tin sau:

B: Nhà văn được giải Nobel Saramago phát biểu: “Karl Marx was never so right”

D: Khi nền kinh tế suy sụp, người Đức chuyển sang đọc “Tư bản luận” của Marx, và nhà xuất bản lời to

Cả hai tin này đều đưa vào hồi tháng 10/2008.

Một tin mới nhất là tin A: Cách đây vài ngày (cuối tháng 4/2009), Liên minh các nhà kinh tế Azerbaijan tổ chức hội nghị nhân kỷ niệm 150 năm ngày ra đời cuốn Tư bản luận.

Người dân ở đâu quan tâm đến tác giả nào nhất? Bản đồ dưới đây cho ta biết (vẫn Marx xanh Rand đỏ)

Người dân các nước đang phát triển vẫn tìm kiếm Marx nhiều nhất và chẳng mấy quan tâm đến Rand (trừ ở Phillippines). Ở Mỹ và Ấn Độ, Rand chỉ hơn Marx có chút xíu. Ở Gia Nã Đại, Na Uy, Tân Tây Lan thì Marx thắng Rand.



Công cụ Insights còn cho ta biết cụ thể tại từng nước. Ví dụ, ở Việt Nam, tại tháng 10/2008, sau khi Lehman Brothers sụp đổ, ngành tài chính Mỹ hỗn loạn, số lượt tìm kiếm từ khóa “Karl Marx” tăng đột biến. Và trong 12 tháng qua, chỉ số tìm kiếm từ “Ayn Rand” vẫn là 0, as usual.